Cam Hòa – Cam Lâm – Khánh Hòa – Đt 0583 863020 – Email: hdmtgnt@gmail.com

CHÚA NHẬT PHỤC SINH

Đăng lúc: Thứ bảy - 31/03/2018 09:54 - Người đăng bài viết: menthanhgia
CHÚA NHẬT PHỤC SINH

CHÚA NHẬT PHỤC SINH

Lời Chúa: Cv 10: 34a, 37-43; Cl 3: 1-4; Ga 20: 1-9

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật Phục Sinh tập trung vào biến cố Phục Sinh của Đức Giê-su, vì thế, bỏ qua bài đọc Cựu Ước quen thuộc để nhường chỗ cho Tân Ước. Sau khi Đức Giê-su đã hoàn tất Kinh Thánh, Giáo Hội không còn lý do gì quan tâm đến những bản văn tiên báo. Khởi đi từ Chúa Nhật Phục Sinh cho đến lễ Ngũ Tuần, Bài Đọc I được trích dẫn từ sách Công Vụ Tông Đồ. Đây là một truyền thống xa xưa lên đến tận thế kỷ IV.

Cv 10: 34a, 37-43
Bài Đọc I nhắc chúng ta nhớ rằng đức tin của chúng ta vào Đức Ki-tô Phục Sinh dựa trên lời chứng của các Tông Đồ. Chính lời chứng của thánh Phê-rô, thủ lãnh của Giáo Hội, được nêu bật  trong đoạn trích sách Công Vụ nầy.

Cl 3: 1-4
Đoạn trích thư gởi tín hữu Cô-lô-xê dẫn chúng ta vào trọng tâm mầu nhiệm Phục Sinh và mở ra cho chúng ta những chiều kích thần học của biến cố này.

Ga 20: 1-9
Sau cùng, Tin Mừng tường thuật cho chúng ta một câu chuyện sống động nhất và chính xác nhất về cuộc khám phá ngôi mộ trống. Đây là câu chuyện khai mào đức tin của các Tông Đồ vào biến cố Phục Sinh.

BÀI ĐỌC I (Cv 10: 34a, 37-43)
Sách Công Vụ được trình bày như phần tiếp theo sách Tin Mừng thứ ba: cùng một tác giả là thánh Lu-ca, và cùng một người nhận là ông Thê-ô-phi-lô, mà chúng ta không biết rõ nhân vật lịch sử này.

Thánh Lu-ca ôm ấp nỗi bận lòng của một sử gia: “tra cứu đầu đuôi mọi sự”. Trong sách Tin Mừng của mình, thánh ký đã quan tâm đến cuộc đời thơ ấu của Đức Giê-su; cũng vậy, trong sách Công Vụ Tông Đồ, thánh ký tường thuật cuộc đời thơ ấu của Giáo Hội. Trong phần thứ nhất sách Công Vụ Tông Đồ, thánh Lu-ca nêu bật nhân cách của thánh Phê-rô; còn trong phần thứ hai là dung mạo của thánh Phao-lô.

Thánh Lu-ca nhiều lần nhấn mạnh các Tông Đồ đã mạnh mẻ làm chứng về biến cố Phục Sinh như thế nào. Diễn từ của thánh Phê-rô tại nhà ông Co-nê-li-ô, viên đại đội trưởng người Rô-ma, cung cấp một ví dụ. Đó là lý do chọn lựa đoạn trích nầy vào Chúa Nhật Phục Sinh nầy.

1. Cuộc kinh lý mục vụ của thánh Phê-rô:
Vị lãnh đạo Giáo Hội đang thực hiện một cuộc “kinh lý mục vụ”. Sau cuộc bách hại giáng xuống cộng đoàn Ki-tô hữu Giê-ru-sa-lem non trẻ vào năm 36 (năm mà thánh Tê-pha-nô được phúc tử đạo), thời kỳ lắng dịu đã xảy đến. Thánh Phê-rô lợi dụng thời kỳ tạm yên nầy để viếng thăm những giáo đoàn vừa mới được thành lập. Sách Công Vụ nói với chúng ta, “thánh Phê-rô rảo khắp nơi” (Cv 9: 32). Chính như vậy thánh nhân đến miền duyên hải mà vừa mới đây “phó tế” Phi-líp-phê đã mang Tin Mừng đến đó.

2. Thánh Phê-rô lần đầu tiên bước vào nhà một người ngoại giáo:
Trong khi thánh Phê-rô đang ở tại nhà ông Gia-phô thì một viên đại đội trưởng người Rô-ma đồn trú ở Xê-da-rê cách đó khoảng năm mươi cây số, sai người đến mời thánh nhân đến nhà ông. Viên đại đội trưởng là một cảm tình viên của Do thái giáo, trong số những người được gọi “những người kính sợ Thiên Chúa”. Sách Công Vụ nói với chúng ta ông là người đạo đức và rộng tay bố thí.

Đây là lần đầu tiên thánh nhân bước vào nhà của một người không chịu phép cắt bì, bất chấp những cấm kỵ lâu đời. Lệnh cấm tiếp xúc với những người không chịu phép cắt bì không được phát biểu trong Lề Luật, nhưng xuất phát từ tập quán và lời giải thích của các kinh sư. Lý do đầu tiên chính là để tránh mọi tiêm nhiễm ngoại giáo, nhưng dần dần lệnh cấm nầy được phổ biến và được tuân giữ nghiêm nhặt. Lần đầu tiên thánh nhân mang sứ điệp Tin Mừng đến một người lương dân và tất cả gia quyến của ông. Đây thực sự là một kinh nghiệm gây chấn động.

3. Bài diễn từ của thánh Phê-rô:
Bài diễn từ của thánh Phê-rô là một bản tóm tắt Tin Mừng, nhưng không có chung những điểm nhấn với những bài diễn từ khác mà thánh nhân đã công bố ở Giê-ru-sa-lem, ở đó thánh Tông Đồ chứng minh cho người Do thái thấy rằng Đức Giê-su đã thực hiện những lời hứa Kinh Thánh và Ngài là Đấng Mê-si-a. Ở Xê-da-rê, vì ngỏ lời với một cử tọa lương dân, thánh Phê-rô nhấn mạnh phẩm chất “chứng nhân” của mình: chính thánh nhân và các vị Tông Đồ khác đã là những “chứng nhân” về những hoạt động của Đức Giê-su người Na-da-rét, về cuộc Khổ Nạn của Ngài, và nhất là về cuộc Phục Sinh của Ngài. Có một ít người được diễm phúc gặp gỡ Đức Giê-su Phục Sinh và sống thân mật với Ngài. Thánh nhân là một trong số những người “đã được cùng ăn cùng uống với Ngài sau khi Ngài đã từ cõi chết sống lại”. Đấng Phục Sinh đã trao cho họ sứ mạng làm chứng rằng Thiên Chúa đã đặt Ngài làm Thẩm Phán để xét xử người sống cũng như kẻ chết. Đối với những người có ý định gia nhập Hội Thánh và đón nhận phép Rửa, thánh nhân tế nhị nói thêm rằng vị Thẩm Phán nầy cũng là Đấng tha tội. Thánh nhân trích dẫn lời loan báo của các ngôn sứ để nhấn mạnh: “Phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội”.

Giáo Hội đặt nền tảng đức tin của mình vào biến cố Phục Sinh dựa trên lời chứng của các Tông Đồ. Giáo Hội xem lời chứng nầy dứt khoát đến nổi Giáo Hội đã không bao giờ cảm thấy cần phải đặt biến cố Phục Sinh như một tín điều. Sự kiện hiển nhiên buộc phải nhận như thế, nền tảng quá vững chắc: những chứng nhân đã “thấy”“đã sống” với Đức Ki-tô Phục Sinh.

 BÀI ĐỌC II (Cl 3: 1-4)
Thánh Phao-lô viết thư gởi tín hữu Cô-lô-xê này trong khi bị giam cầm ở Rô-ma vào những năm 61-62. Trong đoạn trích thư này, thánh nhân trình bày cho chúng ta chiều kích thần học về biến cố Phục Sinh cách sâu xa.

1. Lập luận của thánh Phao-lô:
Thánh Phao-lô là nhân chứng của Đức Ki-tô Phục Sinh. Đấng Phục Sinh đã nắm bắt thánh nhân trên đường Đa-mát, đã tỏ mình ra cho thánh nhân trong ánh sáng chói lòa, đã cho thánh nhân những lời dạy của Ngài và trao phó sứ mạng cho thánh nhân.

Lập luận của thánh Phao-lô xem ra có vẻ mâu thuẫn: trước hết, thánh nhân nói: “Anh em đã được chỗi dậy cùng với Đức Kitô,” đoạn tiếp đó: “Anh em đã chết với Đức Ki-tô”. Thật ra, đây là một trong những phương thức thánh Phao-lô thường sử dụng: trước tiên thánh nhân đề cao thực tại tinh thần, từ đó cho thấy những hậu quả “luân lý” đòi buộc cách ăn nếp ở của chúng ta; tiếp đến, những hậu quả “hữu thể”, tức là những hậu quả ghi dấu ấn trên bản thân của chúng ta.

2. Người Ki-tô hữu:
Như trường hợp ở đây, thánh Phao-lô định nghĩa người Ki-tô hữu là người, nhờ bí tích Thánh Tẩy, được dự phần vào sự Phục Sinh của Đức Kitô, vì thế, họ được sống lại rồi. Trong thư gởi các tín hữu Ê-phê-xô, thánh nhân diễn tả thực tại nầy còn bạo dạn hơn nữa, khi thánh nhân dùng thì quá khứ: “Người đã cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Giê-su Ki-tô trên cõi trời” (Ep 2: 6).

Vì thế, từ thực trạng tinh thần này của người Ki-tô hữu, thánh Phao-lô nhấn mạnh trước tiên những hậu quả luân lý: “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới”, tiếp đó thánh nhân nói đến những hậu quả hữu thể: được sống lại rồi, tức là đã chết cho tội lỗi, đó là được biến đổi tận bên trong. Bên ngoài không có gì thay đổi, nhưng một năng lực thần linh ẩn kín ở bên trong người Ki-tô hữu, mà ánh sáng rực rỡ của nó sẽ chỉ được tỏ rạng một cách viên mãn vào ngày chung cuộc. Ý tưởng rất thân thiết đối với thánh Phao-lô: sống theo Đức Ki-tô đảm bảo vinh quang tương lai của chúng ta; ngay ở đời này, chắc chắn chúng ta có được những bảo chứng về vinh quang của chúng ta rồi.

TIN MỪNG (Ga 20: 1-9)
Niềm xác tín của các Tông Đồ vào biến cố Phục Sinh của Đức Ki-tô đặt nền tảng trên hai kinh nghiệm: “Ngôi mộ trống”“Những lần Đấng Phục Sinh hiện ra”. Chúng ta có thể nói rằng niềm xác tín nầy đã hình thành nên hai giai đoạn.

Trước hết, việc “phát hiện ngôi mộ trống” là mặc khải gây kinh ngạc đầu tiên, chúng ta dám nói kinh nghiệm về sự “trống rỗng”, kinh nghiệm nầy đã khai mở lòng trí của họ để hiểu Kinh Thánh. Tiếp đó, vào cùng ngày hôm ấy, “những lần Đức Giê-su hiện ra” đem đến những bằng chứng khả giác về một người đang sống; tuy nhiên, các môn đệ không thể nào hiểu thấu được mầu nhiệm tôn vinh của Ngài. Nhưng thân xác của Đấng Phục Sinh hiện ra với các ông rõ ràng là thân xác đã biến mất khỏi ngôi mộ, thân xác mang lấy những vết thương tử nạn của Ngài. Vì thế, đây không là một bóng ma, cũng không thân xác giả mạo. Hai kinh nghiệm cũng cố cho nhau, bổ túc lẫn nhau. Các Tông Đồ làm chứng về cuộc Phục Sinh của Đức Giê-su với một niềm xác tín tuyệt đối cho đến phải hy sinh tính mạng của mình.

1. Ngày thứ nhất trong tuần:
Tin Mừng thứ tư cho chúng ta một bài tường thuật sống động và chính xác về cuộc phát hiện ngôi mộ trống, bài tường thuật của một “chứng nhân nhãn tiền”. Như thường hằng trong Tin Mừng Gioan, những chi tiết vén mở những ý nghĩa sâu xa.

Ngày sa-bát đã chấm dứt vào buổi chiều hôm qua, ngày thứ nhất trong tuần đã khởi sự, ngày thứ nhất nầy sẽ là Ngày Chúa Nhật của chúng ta, “Ngày của Chúa”, chính xác là ngày các Ki-tô hữu tưởng niệm biến cố Phục Sinh.

2. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la:
Thánh Gioan nói: “Sáng sớm, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ”. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la là một trong các người phụ nữ đã lấy của cải của mình mà giúp Đức Giê-su và các môn đệ Ngài trong những cuộc hành trình truyền giáo của Ngài (Lc 8: 1-3), cùng với Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, bà can đảm đứng bên thập giá vào những giây phút sau cùng của Đức Giê-su (Ga 19: 25), và bà đã chứng kiến cuộc mai táng của Ngài đế ý nhìn ngôi mộ và xem thi thể Ngài được đặt như thế nào (Lc 23: 55). Bây giờ, sau ngày hưu lễ, bà đi viếng mộ. Tin Mừng nói rõ rằng bà ra đi đến mộ sáng sớm “lúc trời còn tối”: lòng mến và niềm tôn kính của bà khiến bà ra đi không trì hoãn để được ở bên cạnh thi thể của Chúa chúng ta.

Ở đây, thánh Gioan chỉ nêu đích danh bà Ma-ri-a Mác-đa-la; tuy nhiên, theo chính bản văn, dường như có các người phụ nữ khác (hay ít ra một người phụ nữ khác) cùng đồng hành với bà, vì bà Ma-ri-a Mác-đa-la nói ở ngôi thứ nhất số nhiều: “Chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”. Quả thật, thánh Mát-thêu nêu tên hai người phụ nữ: bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cùng tên là Ma-ri-a (Mt 28 : 1); còn thánh Mác-cô thì kể ra ba người phụ nữ: bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Ma-ri-a, mẹ của ông Gia-cô-bê, và bà Sa-lô-mê (Mc 16 : 1); thánh Lu-ca còn nói đến nhiều người phụ nữ (Lc 24 : 1). Nhưng bà Ma-ri-a Mác-đa-la luôn luôn được nêu đích danh và đặt ở hàng đầu.

Tại sao chỉ một mình bà Ma-ri-a Mác-đa-la được nêu đích danh ở đây? Chắc chắn vì trong số những thánh nữ trung tín này, kỷ niệm của bà đã là nổi bật nhất (thánh Gioan biên soạn Tin Mừng của mình với một hồi tưởng nào đó), vì chính bà đã được diễm phúc chứng kiến cuộc hiện ra đầu tiên trong số những lần hiện ra của Đấng Phục Sinh mà các sách Tin Mừng tường thuật và chính Đấng Phục Sinh sai bà đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các Tông Đồ. Vì thế, truyền thống Giáo Hội tôn kính gọi bà là “Tông Đồ của các Tông Đồ”, nghĩa là người tông đồ tuyệt hảo bậc nhất.

3. Thánh Phê-rô và thánh Gioan:
Khi bà Ma-ri-a Mác-đa-la báo tin cho thánh Phê-rô và thánh Gioan: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”, lúc đó, có thể cả hai ông đang tá túc dưới một mái nhà. Trong các sách Tin Mừng nhất lãm, cả hai ông đều đã là nhân chứng của biến cố Biến Hình, chắc chắn kinh nghiệm nầy giúp hai ông hiểu biến cố mà hai ông trải qua vào buổi sáng nầy. Trong sách Công Vụ, hai ông thường được nêu tên cùng nhau và hoạt động cùng nhau (Cv 3: 1-11; 4: 1-22).        

Thánh Phê-rô lớn tuổi hơn thánh Gioan, vì thế, ông không thể chạy theo kịp sức trẻ của thánh Gioan. Thánh Gioan đến mồ trước, nhưng không vào chỉ đứng bên ngoài liếc nhìn vào bên trong trong khi chờ đợi thánh Phê-rô đến và nhường cho thánh Phê-rô vào mộ trước để tỏ lòng tôn kính quyền lãnh đạo Tông Đồ của thánh Phê-rô. Trong Tin Mừng Gioan, quyền lãnh đạo của thánh Phê-rô được xác nhận chỉ sau khi gặp gỡ Đấng Phục Sinh bên biển hồ Ti-bê-ri-a: “Hãy chăm dắt chiên của Thầy” (Ga 21: 15-17), nhưng thật ra đã hàm chứa trong việc đổi tên mà Đức Giê-su đã ban cho vị Tông Đồ nầy rồi ngay từ cuộc hội ngộ đầu tiên: “Anh là Si-mon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kê-pha” (tức là Phê-rô: Ga 1: 42). Cả hai người cùng chứng kiến hiện trường: “ngôi mộ trống”. Chi tiết này có một tầm quan trọng đặc biệt, vì đối với luật Do thái, một sự kiện chỉ được chứng thực nếu có tối thiểu hai nhân chứng. Trước đây, Đức Giê-su đã nhắc lại điều nầy cho những người Biệt Phái: “Trong Lề Luật của các ông, có chép rằng lời chứng của hai người là chứng thật” (Ga 8: 17). Ngoài ra, theo luật, lời chứng của những người phụ nữ thì không có giá trị.

4. Lời chứng của chứng nhân nhãn tiền.      
Không chỉ chứng kiến ngôi mộ trống, hai ông còn thấy băng vải liệm và khăn che đầu được cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Cảnh tượng này càng đánh động sâu xa hai vị Tông Đồ. Nếu thi thể bị đánh cắp, băng vải liệm có lẽ đã bị vất bừa bãi, thế mà tất cả đều được xếp gọn gàng ngăn nắp.

Mặt khác, làm thế nào hai ông không thể không nghĩ đến cảnh anh La-da-rô được sống lại bước ra khỏi mồ, “chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn” (Ga 11: 44), còn Đức Giê-su khi sống lại thì hoàn toàn tự do, không còn bị băng vải liệm buộc chặt thân thể Ngài hay khăn che đầu phủ mặt Ngài được chứ? Như vậy quyền lực của Tử Thần, mà băng vải liệm và khăn che mặt là biểu tượng, không còn có thể trói buộc Ngài được nữa. Nói cách khác, anh La-da-rô dù được sống lại nhưng vẫn còn bị xích xiềng Tử Thần trói buộc nên rồi sẽ phải chết một lần nữa, trong khi Tử Thần từ nay không có quyền hành gì trên Đức Giê-su nữa, Ngài đã vĩnh viễn đánh bại Tử Thần. Chắc chắn, thánh Gioan đã hiểu dấu chỉ nầy và bị chấn động đến mức ông đã phải thốt lên: “Tôi đã thấy và đã tin”. Rõ ràng lời tuyên xưng này diễn đạt một tiến trình đức tin từ “thấy” đến gắn bó trọn vẹn vào Đấng Phục Sinh.

Ánh sáng đức tin đã bừng lên trong lòng “người môn đệ Chúa yêu” nầy trước ngôi mộ trống trong đó chính ông đã chứng kiến: băng vải liệm cùng khăn phủ đầu được cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Nếu trước đây đức tin của thánh Gioan đã bị chao đảo trước những biến cố đau thương của Thầy mình, thì tình yêu của “người môn đệ Chúa yêu” này đã chẳng hề suy giảm như thánh nhân đã cho thấy khi theo từng bước chân của Thầy cho đến đỉnh đồi Can-vê và chứng kiến giây phút sau cùng của Thầy. Chính độ nhạy bén của tình yêu này đã dẫn thánh nhân đến niềm tin ngay tức khắc. Đó cũng độ nhạy bén của tình yêu này mà vài ngày sau đó cũng chính thánh nhân là người đầu tiên nhân ra Thầy mình dưới hình dạng của một khách vãng lai trên bờ hồ Ti-bê-ri-a trong sương sớm (21: 4, 7). Người môn đệ được yêu và đang yêu này chỉ “thấy cái tối thiểu”, tuy nhiên, thánh nhân lại “tin tối đa”. Độ nhạy bén của tình yêu này hỗ trợ cho thánh nhân thấu hiểu con người và sự vật.

5. Lời chứng của Kinh Thánh.        
Nhờ độ nhạy bén của con tim, người môn đệ Chúa yêu đạt đến niềm tin; tuy nhiên, thánh nhân cũng cần lý trí soi sáng. Lời ghi nhận “Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Ki-tô phải chỗi dậy từ cõi chết” ám chỉ đến tiến trình các môn đệ hậu phục sinh giải thích biến cố Phục Sinh của Chúa Ki-tô nhờ ánh sáng Cựu Ước (Ga 2: 17, 22; 12: 16). Hơn nữa, vào lúc này, Chúa Thánh Thần, Đấng soi sáng tâm trí của họ để hiểu nội dung Kinh Thánh, chưa được ban cho họ (Ga 14: 26; Lc 24: 45).

Các bản văn Kinh Thánh lại hiện ra trong tâm trí các ông. Người ta có thể phỏng đoán rằng họ nghĩ đến Tv 16, vì, vài tuần sau đó, chính Thánh Vịnh nầy mà thánh Phê-rô sẽ trích dẫn cho đám đông ở Giê-ru-sa-lem để đưa ra những khẳng định của mình liên quan đến biến cố Phục Sinh (Cv 2 : 24-31). Quả thật, trong Tv 16, chúng ta gặp thấy những hàng nầy:

“Thân xác con cũng nghĩ ngơi an toàn.
Vì Chúa chẳng đành để mặc con trong cõi âm ty,
không để kẻ hiếu trung nầy hư nát trong phần mộ” (Tv 16: 9-10).

Ấy vậy, truyền thống đã áp dụng Thánh Vịnh này vào Đấng Mê-si-a.
Như vậy, hai vị Tông Đồ rời khỏi ngôi mộ trống với hai yếu tố cần thiết cho niềm xác tín của họ: trước hết, chứng thực những điều các ông đã chứng kiến; sau nữa, khẳng định những lời Kinh Thánh tiên báo. 
Tác giả bài viết: Lm. Inhaxio Hồ Thông
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc