Cam Hòa – Cam Lâm – Khánh Hòa – Đt 0583 863020 – Email: hdmtgnt@gmail.com

ĐỨC BÀ CHẲNG HỀ MẮC TỘI TỔ TÔNG TRUYỀN

Đăng lúc: Thứ tư - 06/12/2017 03:33 - Người đăng bài viết: menthanhgia
ĐỨC BÀ CHẲNG HỀ MẮC TỘI TỔ TÔNG TRUYỀN

ĐỨC BÀ CHẲNG HỀ MẮC TỘI TỔ TÔNG TRUYỀN

Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được Đức Thánh Cha Pio IX công bố vào ngày 8 tháng 12 năm 1854

Qua dòng lịch sử Giáo Hội đã tuyên bố bốn tín điều về Đức Maria: Mẹ Thiên Chúa, Trọn Đời Đồng Trinh, Vô Nhiễm Nguyên Tội, Hồn Xác Lên Trời. Nói đúng ra, bốn chân lý đức tin ấy không phải chỉ liên hệ tới cá nhân của Đức Mẹ, nhưng còn nói lên vai trò của Người trong công cuộc cứu chuộc của Đức Kitô. Hai tín điều đầu tiên gắn Đức Mẹ với mầu nhiệm nhập thể, hai tín điều sau đặt Mẹ trong tương quan với mầu nhiệm cứu chuộc. Hai tín điều đầu đã được Giáo Hội tuyên xưng từ buổi sơ khai; hai tín điều còn lại được tuyên xưng vào thế kỷ XIX và XX. Mỗi tín điều được suy tư và phát triển trong ba chiều kích: Nền tảng Kinh Thánh, lịch sử hình thành và ý nghĩa thần học. Trong những ngày chuẩn bị mừng kính lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin được chia sẻ ở đây tín điều chúng ta tuyên xưng nơi Mẹ: Vô Nhiễm Nguyên Tội.

1.  Lịch sử tín điều
Vào thời các Giáo Phụ, người ta đã công nhận sự thánh thiện của Đức Maria, cũng như sự thánh thiện “đầy tràn” (plena gratia) nơi Người vì đã cộng tác cách đặc biệt vào công cuộc cứu độ của Chúa Kitô. Dầu vậy, chưa mấy ai đặt lên vấn đề xem Đức Maria thánh thiện (được khỏi tội) từ lúc nào[1]. Mặt khác, việc Người thông hưởng ơn cứu chuộc của Đức Kitô được áp dụng vào việc sống lại hơn là vào lúc sinh ra. Thực ra, các Giáo Phụ chú trọng tới việc bảo vệ các chân lý về Đức Kitô (chống lại bao nhiêu thứ lạc thuyết) hơn là nghĩ đến Đức Maria. Riêng về Đức Kitô, Giáo Hội thời đó thâm tín rằng: duy có Đức Kitô mới là Đấng Toàn Thánh bởi vì Ngài được hợp nhất với Ngôi Lời; hết mọi con cháu Ađam đều cần được Đức Kitô cứu chuộc. Trong bối cảnh khó có thể nói đến Đức Maria toàn thánh, không hề bao giờ mắc tội, xét vì Người cũng là con người chứ không được kết hợp với Chúa, cũng như lý do đó, Người cũng cần được Đức Kitô cứu chuộc như các con cái Ađam khác.

Mặt khác, khi muốn đề cao rằng chỉ duy có Chúa Giêsu mới là Đấng Thánh, một số Giáo Phụ đã vạch ra vài khuyết điểm nơi Mẹ của Ngài. Thí dụ, Giáo Phụ Tertuliano ví Đức Maria như tiêu biểu của Do Thái cứng lòng tin, vì vậy mà Chúa Giêsu đã chuyển các phúc lộc lẽ ra dành cho kẻ cưu mang Đấng Cứu Thế sang cho các môn đệ tin vào Ngài. Giáo Phụ Origene thì giải thích ý nghĩa của lưỡi gươm đâm thâu qua lòng bà mẹ (mà cụ già Simeon tiên báo) như là những nghi ngờ về thiên tính của Đức Kitô (In Luc. Homilia 17: PG 13, 1845). Tuy nhiên, cần phải thêm rằng Origine đã gọi Đức Maria là Đấng “toàn thánh” (Panagitas, tota sancta: In Luc. Hom 6: PG 13, 1816): Người toàn thánh vì sứ mạng cao cả mà Chúa dành cho; sự thánh thiện của Người bắt nguồn từ ơn cứu chuộc mà Con của Người mang lại (In Luc. Hom. 7: PG 13, 1817).

Ngoài ra, cũng nên biết là vào những thế kỷ ấy, đạo lý về bản chất của tội nguyên tổ chưa được xác định rõ: có người thì coi nó như là cái chết thể lý; người thì coi như là “cái chết thứ hai” (bị khổ hình trong hỏ ngục); có người thì coi đó như là thân xác sẽ bị tan nát trong mồ; sau cùng lại còn thuyết “hoàn toàn hủy diệt” (nghĩa là sau khi chết rồi thì con người sẽ tan tành ra hư vô). Với thánh Augustino thì học thuyết mới được thành hình dần dần: trong cuộc tranh luận với phe Pelagio, thánh Augustino coi hậu quả của tội nguyên tổ như là con người bất lực hoàn toàn để đạt được ơn cứu độ. Ngoài ra, liên quan đến tội nguyên tổ, thần học thời đó cũng chưa có khái niệm rõ rệt về hai vấn đề sau: (a) Tội nguyên tổ truyền lại như thế nào: qua sự sinh sản (thể lý)? Do đó, nếu Đức Maria đã sinh ra qua việc sinh hoạt thường tình của cha mẹ, thì đương nhiên cũng mắc tội. (b) Từ khi nào con người xuất hiện, nghĩa là có linh hồn để có thể lãnh nhận ơn thánh hay mắc tội: ngay từ khi thụ thai? Hay một thời gian sau đó?

Nhân tố đưa tới sự sáng tỏ đạo lý về Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Có hai nhân tố chính: a) Phụng vụ; b) Thần học.

a). Phụng vụ: từ thế kỷ VIII bên Đông phương xuất hiện lễ “Đức Mẹ thụ thai” (De conceptione beatae Marie) mừng vào ngày 8 tháng 12 (nên biết là lễ sinh nhật Đức Mẹ đã được cử hành vào ngày 8 tháng 9 từ lâu đời). Lúc đầu có lẽ người ta mừng sự “thụ thai lạ lùng” dựa trên ngụy thư (Phúc Âm của thánh Giacobe) nói về việc bà thánh Anna son sẻ mang thai khi đã lớn tuổi và ông Gioankim đã lên sa mạc. Lễ này được truyền qua Tây phương hồi thế kỷ IX. Tại Anh, vào thế kỷ XI, lễ được đổi tên là “thụ thai vô nhiễm” (Immaculata conceptio), rồi từ đó lan sang Pháp quãng năm 1130. Vì có nhiều nhà thần học chống đối, nên lễ bị quên bặt một thời gian.

Bước sang thế kỷ XIV, do sự cổ động của Gioan Xcot[2], lễ lại được truyền bá. Năm 1477, Đức Giáo Hoàng Xitto IV (1471 – 1484) chuẩn y bài giảng lễ và bài nguyện lễ Vô Nhiễm; vào năm 1483, Ngài lên án những người chống lại các nhà giảng thuyết về chân lý này. Từ cuối thế kỷ XV, nhiều đại học chỉ cấp bằng cho những sinh viên nào thề sẽ bảo vệ chân lý Vô Nhiễm, thí dụ: Paris (1497), Colonia (1499), Vien (1501), Valezia (1717), Salmansa , Palecmo (1618). Năm 1708, Đức Clemente XI nâng lễ Vô Nhiễm lên hàng lễ buộc và năm 1863 Đức Pio IX chuẩn y lễ bài lễ và bài nguyện đã được duyệt lại.

b). Các thần học gia: thánh Alsemo bắt đầu những cuộc khảo luận thần học về Đức Maria Vô Nhiễm, ngài nhận thấy vấn nạn nêu lên: nếu Đức Maria được sạch tội ngay từ lúc thụ thai, thì hóa ra Người không cần đến ơn cứu độ hay sao? Thánh Alsemo trả lời là Người được “tiền cứu chuộc” (redemption anticipata), nghĩa là được hoàn toàn cứu chuộc ngay từ trước khi sinh ra (kiểu như thánh Gioan Tẩy Giả), vì thế Đức Maria được gọi là “toàn thánh”. Một môn đệ của thánh Alsemo tên Etmero (1134) nại tới sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa: Nếu Chúa muốn cho Đức Maria sinh ra nguyên tuyền giữa bụi gai thì khó chi? Miễn là Chúa muốn thì tất là được (“Potuit plane et voluit, fecit’: Tractatus de conceptione Sanctae Marie, 12 : PL 159, 305).

Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà thần học gia đều đồng ý với lập luận ấy. Thánh Bernado và Phêrô Lombardo không chấp nhận đạo lý Đức Maria Vô Nhiễm, vì những vấn nạn về ơn cứu chuộc; cũng vì vậy, cả hai cũng chống việc cử hành lễ kính phụng vụ. Sang thế kỷ XIII, thánh Alberto và thánh Tôma Aquino cũng gặp thấy khó khăn trong việc dung hòa giữa đạo lý vô nhiễm với đạo lý tất cả mọi người đều cần được Đức Kitô cứu rỗi. Tuy nhiên, thánh Tôma cho rằng có thể chấp nhận là Đức Maria được thánh hóa trong lòng mẹ ngay từ khi thụ thai (sanctificato in utero; III, q. 27,1).

Giulienmo đờ Uaayrre và Gioan Xcot giải quyết vấn nạn bằng cách phân biệt giữa ơn thánh “rào đón” (gratia praeveniens) và ơn thánh “chữa trị” (gratia curans). Cả hai đều là hiệu quả của ơn cứu chuộc của Đức Kitô; nhưng Đức Maria được ơn thánh “dự phòng” (redemptio praeservatia), nghĩa là Người được giữ gìn khỏi tội vì nhắm thấy trước những công nghiệp của Đức Kitô. Gioan Xcot viết rằng: giữ gìn ai cho khỏi sự dữ thì tuyệt hơn là để cho họ rơi vào sự dữ rồi mới cứu ra. Do đó, nếu Đức Kitô đã lập công mang lại cho các linh hồn ơn sủng và vinh quang (Ngài là Đấng Trung Gian và Cứu Độ của hết mọi người), thì sao lại không thể có linh hồn mang ơn Ngài vì được gìn giữ tinh tuyền?[3]. Một môn đệ của Gioan Xcot tên là Phanxico Mayronit đã khẳng định thêm: “Thiên Chúa có thể làm được, Ngài thấy đáng làm, vì thế Ngài đã làm” (potuit, decuit, ergo fecit).

Lập luận của Gioan Xcot đã giúp cho các nhà thần học giải quyết những vấn nạn gai góc nhất. Thực vậy, các khó khăn được nêu lên từ trước đến giờ không phải bắt nguồn từ chổ thiếu lòng tôn kính với Đức Maria, nhưng là vì không tìm ra cách dung hợp đạo lý vô nhiễm với đức tin nòng cốt của Kitô giáo, tức là: tất cả mọi người đều cần được Đức Kitô cứu chuộc.

Từ Đức Xitto IV, Tòa Thánh đã bắt đầu can thiệp vào cuộc tranh luận thần học và dần dần bày tỏ lập trường bênh vực đạo lý về Đức Mẹ Vô Nhiễm. Thực ra, Ngài chỉ cấm đôi bên (dù bênh hay chống) đừng tố cáo nhau là rối đạo (Bulla “Cum praeexcelsa” – 1477, “Grave nimis” – 1482); nhưng mặt khác Ngài đã phê chuẩn bài lễ phụng vụ kính Đức Mẹ Vô Nhiễm. Công Đồng Trento (1546) tuy không đả động trực tiếp tới đạo lý này, nhưng cũng tuyên bố không đặt Đức Maria trong số những người mắc tội tổ tông truyền như tất cả mọi người khác (sess. V, decretum de peccato orginali, 5: Dz – Sch. 1516). Vào năm 1661, Đức Giáo Hoàng Alexando VII cho rằng đạo lý đã có tính cách phổ quát, và cấm nói ngược lại (Breve Sollicitudo omnium ecclesiarum, 8. 12. 1661: Dz – Sch 2015).

Vào đầu năm 1849 (thông điệp “Ubi primum”) ngày 2. 2. 1849, Đức Pio IX đã tham khảo ý kiến tất cả các Giám Mục hoàn cầu về hai điểm: 1/ Giáo Hội có tin rằng đây là đạo lý do Chúa mặc khải hay không? 2/ Có nên long trọng tuyên bố thành tín điều không? Trong số 603 Giám Mục chính tòa, 546 vị đã trả lời chấp thuận cả hai điểm. Tín điều được công bố ngày 8. 12. 1854 (Bulla Ineffabilis Deus).

2.  Nội dung tín điều
“Chúng tôi tuyên bố (declaramus, pronuntiamus et definimus) rằng đây là một đạo lý do Chúa mặc khải: Trinh Nữ Rất Thánh Maria, vào lúc đầu tiên thụ thai đã được gìn giữ không mắc phải tì ố của tội nguyên tổ, do ơn thánh đặc biệt và đặc ân của Thiên Chúa toàn năng, và vì nhắm tới các công nghiệp của Đức Giêsu Kitô Đấng cứu chuộc loài người. Vì vậy, hết mọi tín hữu phải tin vững điều đó”.

3.  Nền tảng Kinh Thánh
Trong Kinh Thánh, không tìm thấy đoạn văn nào nói rõ ràng rằng Đức Maria không mắc tội nguyên tổ. Tuy nhiên, do sự tiến triển đạo lý, Giáo Hội đã tìm thấy những nền tảng trong Kinh Thánh để có thể quả quyết rằng đây là một chân lý được Chúa mặc khải. Nói cách khác, ta không nên đọc Kinh Thánh thuần túy theo nghĩa văn chương, nhưng cần được đọc trong truyền thống đạo đức của Hội Thánh.

_ Đức Maria là “Đấng đầy ơn Chúa” (Kecharitoméne: Lc 1, 28). Người đã được yêu thương tuyển chọn trong Đức Kitô (Ep 1, 4 – 5). Đạo lý Vô Nhiễm Nguyên Tội muốn xác nhận một chi tiết của sự “đầy ơn” ấy khi xét đến giai đoạn khởi đầu hiện hữu. Thiên Chúa đã yêu thương chọn Người làm mẹ của Con Ngài, Đấng cứu chuộc nhân loại, và Người đã đáp lại bằng cuộc hiến dâng trót cả đời mình cho Chúa, như ta thấy trong cảnh thiên sứ truyền tin. Từ đó ta có thể nhận thấy rằng trót cả đời Đức Maria thuộc về Chúa: tội lỗi (đồng nghĩa với sự khước từ Thiên Chúa) không thể len lỏi vào cuộc đời ấy.

_ Sự thù nghịch giữa người nữ và con rắn (St 3,15). Dĩ nhiên, đoạn văn này không nói chi tới Đức Maria hết. Tác giả của nó chưa nghĩ đến Đức Maria. Tuy nhiên, Thiên Chúa – tác giả của chương trình mặc khải – đã nghĩ tới điều mà người viết tác phẩm chưa biết tới! Có lẽ ông cũng chưa nghĩ tới Đức Kitô nữa, mà chỉ nghĩ tới cuộc chiến đấu trường kỳ giữa dòng dõi của phụ nữ (bà Eva, mẹ của chúng sinh St 3,20, với con cháu của bà tức là cả loài người). Mãi tới khi công cuộc cứu rỗi đã hoàn tất, thì ta mới biết được Đức Kitô là “Adam mới” (Rm 5), và Đức Kitô cũng chính là miêu duệ của Abraham làm thừa kế các lời hứa (Gl 3,16). Các Giáo Phụ tiếp tục khai triển thần học về Đức Kitô như là Adam đệ nhị đã mang lại ơn cứu độ nhờ sự vâng phục (Rm 5; Pl 2, 5 -11); từ đó các ngài khám phá ra vai trò của Đức Maria như là Eva mới, đã trở thành thù địch của con rắn vì hoàn toàn vâng phục và tin vào Chúa. Cũng vì vậy mà Người hoàn toàn thánh thiện, tuy dẫu ở bên cạnh Đức Kitô là Đấng đạp đầu con rắn; còn Đức Maria đứng bên cạnh như thù địch truyền kiếp của nó.

_ Những hình ảnh Cựu Ước về Đức Maria. Các nhà chú giải Kinh Thánh đã ghi nhận rằng khi trình bày chân dung của Đức Maria, các thánh sử Tin Mừng đã áp dụng cho Người nhiều hình ảnh Cựu Ước mà họ coi là đã được thể hiện nơi Đức Maria, thí dụ như hình ảnh về “thiếu nữ Sion” (Đức Maria là biểu tượng của Israel, dân ưu tuyển của Chúa), “hòm bia Thiên Chúa”. Khi bàn về sự thánh thiện của Đức Maria, truyền thống phụng vụ cũng áp dụng một hình ảnh có ý nghĩa đặc biệt cho Người, thí dụ “cung thánh của Đấng Tối Cao”: Đức Maria được ví như thánh điện Giêrusalem, nơi Thiên Chúa đến gặp gỡ dân Ngài. Trong trình thuật truyền tin, Thiên Sứ Gabriel đã nói tới quyền năng Đấng Tối Cao phủ bóng trên Người (Lc 1,35): nếu trong Cựu Ước, khi Thiên Chúa đã chiếm ngự đền thờ thì không ai có thể lai vãng đến gần (Xh 40, 35; 2Sb 5, 11 – 14), thì cũng có thể nói rằng khi Đấng Tối Cao chọn Đức Maria làm cung điện cho mình thì tất nhiên Ngài cũng thanh luyện và thánh hóa ngõ hầu xứng đáng để đón tiếp Ngôi Lời Nhập Thể. Chúa đã muốn cho đền thờ thiêng liêng thuộc trọn về Ngài, và không để cho ai khác chiếm ngự trước; vì vậy Ngài đã giữ gìn Đức Maria không hề phải dưới bóng tội lỗi. Kinh nguyện phụng vụ ngày lễ Mẹ Vô Nhiễm đã gợi lên đề tài ấy: “Lạy Chúa, Chúa đã dọn sẵn một cung điện xứng đáng cho Con Chúa giáng trần khi làm Đức Trinh Nữ Maria khỏi mắc tội tổ tông từ trong lòng mẹ”...

4.  Ý nghĩa thần học
Chân lý về Đức Maria Vô Nhiễm được mặc khải không phải qua một đoạn văn nào cụ thể, nhưng là khung cảnh của toàn bộ mặc khải. Do đó, mà muốn hiểu đúng đắn tín điều này, ta cũng cần phải lồng trong toàn bộ lịch sử cứu độ, chứ không thể nhìn như một chân lý cô lập chỉ liên can tới cá nhân Đức Maria. Tín điều Đức Maria Vô Nhiễm cần được nhìn trong mối tương quan với Chúa Cứu Thế và trong tương quan với Hội Thánh, cũng như trong kế hoạch cứu rỗi.

1/ Trong kế hoạch cứu rỗi
Tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội nói lên ơn tuyển chọn của Thiên Chúa. Ngài tuyển chọn ta ngày từ nguyên thủy, vì yêu thương ta chứ không vì công trạng của ta (Ep 1,4). Chúa chọn ta nên thánh, và muốn cho ta nên thánh bất chấp khuynh hướng phản nghịch tội lỗi của ta.

2/ Trong tương quan với Chúa Cứu Thế
Trong phần lịch sử, chúng ta thấy những dè dặt và vấn nạn chung quanh đạo lý Mẹ Maria Vô Nhiễm bắt nguồn từ sự xác tín rằng hết mọi người đều cần được Đức Kitô cứu chuộc; từ đó, nhiều nhà thần học thấy khó mà chấp nhận việc Đức Maria không hề mắc tội: chẳng lẽ Người không cần gì đến Đức Kitô sao? Vấn nạn ấy đã được vượt qua khi thần học nói tới tác động của ơn thánh nơi Đức Maria là phòng ngừa (ngăn chặn), khác với chúng ta lãnh nhận tác động chữa trị. Cuộc tranh luận thần học ấy đã làm nổi bật rằng Đức Maria tùy thuộc chặt chẽ vào Chúa Cứu Thế. Đức Maria được thánh hóa không phải do công lao tập tành của mình, nhưng là do hồng ân của Chúa. Hơn thế nữa, hồng ân ấy không những chỉ tác dụng nơi Người vào lúc bắt đầu hiện hữu, giữ gìn Người khỏi mắc tội nguyên tổ mà thôi; nó còn tác động trên suốt cuộc đời của Người, biến Người nên cung điện của Thiên Chúa.

Không những Đức Maria được khỏi tội tổ tông truyền do hiệu quả của ơn cứu chuộc của Đức Kitô mà thôi; nhưng ta cũng có thể thêm rằng Người được ơn Vô Nhiễm để phục vụ ơn cứu chuộc nhân loại. Người được cứu chuộc khỏi mọi tội để có khả năng cộng tác với Đức Kitô vào chương trình cứu chuộc nhân loại.

3/ Trong tương quan với Giáo Hội và nhân loại
Điều nhận xét vừa nói đòi hỏi chúng ta phải xét lại cách thức trình bày ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội. Một đàng nó không phải chỉ là một đặc ân dành riêng cho cá nhân của Đức Maria, nhưng còn nhắm tới chương trình cứu rỗi của cả nhân loại. Đàng khác đặc ân ấy không phải chỉ có khía cạnh tiêu cực (giữ gìn cho khỏi các tội) và còn có khía cạnh tích cực nữa. Tội không phải chỉ là một vết nhơ, một tì ố; nhưng tội là một thái độ khước từ tình yêu, khép lòng lại trước tình yêu của Thiên Chúa. Khi phạm tội, con người đóng cửa lòng lại, chỉ biết nghĩ tới mình, coi mình là chúa. Bởi vậy, khi nói rằng Đức Maria được khỏi tội thì cần phải hiểu rằng: Người được giải thoát khỏi thái độ ích kỷ, khỏi những chướng ngại ngăn trở lòng mến Chúa. Đức Maria được gìn giữ khỏi tội có nghĩa là Người được chuẩn bị để có thể đón nhận tình yêu của Chúa không chút dè giữ, để có thể quảng đại đáp lại ơn gọi, để có thể hợp tác toàn vẹn với ơn thánh. Đức Maria được gìn giữ khỏi tội có nghĩa là Người có thể trao hiến toàn thân cho Thiên Chúa để phục vụ kế hoạch của Ngài.

Nơi Đức Maria, Giáo Hội nhìn ngắm một phần tử ưu tú của mình đã chiến thắng tội lỗi và tính ích kỷ nhờ hồng ân của Đức Kitô. Nơi Người, Giáo Hội thấy rằng con người, nhờ có ơn thánh, có thể đáp lại tiếng gọi của Chúa, vượt thắng tội lỗi. Nơi Đức Maria Vô Nhiễm, Giáo Hội chiêm ngắm sức mạnh của ơn thánh Chúa, và tin tưởng rằng ơn thánh có sức mạnh hơn tính yếu đuối mỏng dòn của con người. Trong khi ơn thánh tác động nơi Đức Maria, gìn giữ Người cho khỏi phạm tội, thì nơi chúng ta ơn thánh tác động để tha thứ sau khi chúng ta đã phạm tội; tuy vậy, chúng ta cũng có quyền tin tưởng vào quyền năng của ơn thánh Chúa, để cầu xin Chúa “cứu chúng con cho khỏi sự dữ”[4].

Vì muốn diễn tả khía cạnh tích cực của tín điều, một số nhà thần học đã muốn thay đổi danh xưng: thay vì gọi Đức Maria là Đấng Vô Nhiễm (Immaculata), thì nên gọi là Đấng Toàn Thánh (Tota sancta), một tước hiệu được sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo nhắc đến ở các số 493, 2677. Dù sao ta thấy trong sách Giáo Lý có cả hai khía cạnh: Vô nhiễm (488 – 493) và Thánh Thiện, đầy ơn (721 – 726; 2767). Nơi Đức Maria toàn thánh, Hội Thánh chiêm ngưỡng lý tưởng toàn thánh của mình (829; 967).

5.  Những tranh luận sau Công Đồng Vatican II về bản chất Nguyên Tổ
Vào những năm sau Công Đồng Vatican II, tín điều về Tội Nguyên Tổ đã được xét lại. Tội Nguyên Tổ là gì? Thần học cổ điển nói tới hai khía cạnh của Tội Nguyên Tổ:
a/ Tội do Nguyên Tổ phạm
b/ Tội mà Nguyên Tổ truyền lại cho con cháu.

Dưới khía cạnh thứ nhất, thì Tội Nguyên Tổ là một hành vi luân lý (bất tuân lệnh Chúa) do Nguyên Tổ phạm, và chịu trách nhiệm. Dưới khía cạnh thứ hai, thì “tội” theo nghĩa suy loại, xét vì tất cả loài người rơi vào tình trạng đối nghịch với Chúa không phải do sự lựa chọn cá nhân, nhưng do tính liên đới của tất cả dòng dõi loài người (trong công nghiệp cũng như trong tội trạng).

Tội Nguyên Tổ (xét dưới khía cạnh thứ hai) đã bị xét lại vì ba lý do: khoa học, nhân bản, Kinh Thánh.
a/ Dưới khía cạnh khoa học: có thể nói tới Tội Nguyên Tổ khi mà không chắc gì tất cả loài người phát xuất từ một đôi vợ chồng, nhưng có thể là đã có nhiều cặp “nguyên tổ”?

b/ Dưới khía cạnh nhân bản, tại sao con người lại mắc một tội mà mình không hay biết và không đồng ý gì cả?

c/ Kinh Thánh (Kn 2 -3; Rm 5, 12) có chủ ý quả quyết sự hiện hữu của Tội Nguyên Tổ hay không, hoặc chỉ nhắm đề cao sự cần thiết của ơn cứu rỗi?

Một số nhà thần học đã cố gắng giải thích bản chất của Tội Nguyên Tổ theo những chiều hướng sau:

1/. Chiều hướng tiến hóa (P. Teilhard de Chardin): Vũ trụ này hướng tới đích điểm tuyệt hảo nơi Đức Kitô. Trên con đường tiến hóa ấy, có lực lượng của sự dữ ngăn cản. Tội Nguyên Tổ tượng trưng của lực lượng sự ác nằm trong thế giới, gây ra những xáo trộn, làm cản trở sự tiến hóa. Theo chiều hướng đó, H. Hulbosch coi Tội Nguyên Tổ như là sự bất lực của con người, không thể đạt tới mục tiêu mà Chúa đã định cho nó.

2/. Chiều hướng xã hội: H. Rondet giải thích Tội Nguyên Tổ theo nghĩa là những tội ác chế ngự trong xã hội loài người (tội của thế gian, theo 1Ga 2,15t; 5, 19…). Dù muốn hay dù không, mỗi người chúng ta sống trong xã hội cũng chấp nhận hay nhúng tay vào những tội ấy.

3/. Chiều hướng hiện sinh: A. Vanneste cho rằng khi ra đời, đứa bé mang một mầm mống tội lỗi (khuynh hướng khước từ Đức Kitô); những khuynh hướng dễ thành “tội” khi có ý chí can thiệp vào.

Tuy nhiên, ngoài những tác giả cố gắng giải thích bản chất của Tội Nguyên Tổ, thì cũng có người đặt lại nghi vấn về Tội Nguyên Tổ: họ cho rằng Kinh Thánh (cách riêng thánh Phaolo) không nhằm quả quyết bản chất của Tội Nguyên Tổ cho bằng việc tất cả mọi người cần đến Đức Kitô cứu rỗi (Domingo Fernandez).

Dù sao, không phải tất cả những tác giả vừa nói đều xét tới những hiệu quả đối với tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Riêng cha Domingo Fernandez, tuy phủ nhận Tội Nguyên Tổ, nhưng đồng thời cũng nói rằng điều đó không ảnh hưởng chi tới tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm. Bởi vì, tín điều này không phải chỉ nói lên một khía cạnh tiêu cực (không mắc Tội Tổ Tông) nhưng còn bao hàm bao nhiêu khía cạnh khác nữa: không hề phạm tội, luôn luôn mở rộng đón tiếp Chúa, thánh thiện, trung thành với chương trình của Chúa. Do đó, trong khi trình bày tín điều này, cần phải nhấn mạnh tới khía cạnh tích cực (được Chúa yêu thương tuyển chọn, cởi mở đón nhận ơn Chúa…) hơn là nói tới khía cạnh tiêu cực (không mắc tội).

Như đã nói trên đây, thần học hiện đại đã cố gắng đi theo chiều hướng tích cực đó: Đức Maria “đầy ân sủng”, Đức Maria “toàn thánh”.

(Trích trong cuốn ĐỨC BÀ CHẲNG HỀ MẮC TỘI TỔ TÔNG TRUYỀN của Giáo Phận Bùi Chu mừng kỷ niệm 150 năm dâng Giáo Phận cho Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, tr. 27 - 42)

[1] Một số Phúc Âm ngụy thư, phản ánh lòng đạo đức bình dân, nói tới việc Đức Maria được dâng tiến vào đền thánh lúc lên 3 tuổi (ví dụ: Phúc Âm nguyên khởi của Thánh Giacobe, ngụy Phúc Âm theo Thánh Mattheu).
[2] John Duns Scot (1266 – 1308), chân phước, linh mục dòng Phanxico, Giáo sư đại học Paris – Người có quan điểm bảo vệ luân thuyết Đức Bà mang thai và không hề mắc Tội Nguyên Tổ - Lịch sử Giáo Hội Công Giáo -  Bùi Đức sinh, Veritas Edition Calgary Canada 1999).
[3] De Immacutaia Conceptione B. Virginis Mariae, q. 1.
[4] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 2853 - 2854

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc