Cam Hòa – Cam Lâm – Khánh Hòa – Đt 0583 863020 – Email: hdmtgnt@gmail.com

CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN. NĂM C_2016

Đăng lúc: Thứ bảy - 02/07/2016 20:09 - Người đăng bài viết: menthanhgia
CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN. NĂM C_2016

CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN. NĂM C_2016

CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN_C

Lời Chúa: Is 66,10-14c; Gl 6,14-18; Lc 10,1-12.17-20

——-

Mục lục

1. Sống và loan báo tin vui  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

2. Chúa sai tôi đi  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Làm gì cho người nghèo? (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

4. Trở thành sứ giả đem bình an và niềm vui (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

5. Hãy ra đi rao giảng Tin mừng (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

6. Niềm vui thánh đức (Trầm Thiên Thu)

7. Nguyên nhân của niềm vui Kitô hữu (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

8. Bình an – Quả tặng của các môn đệ Đức Giêsu  (Lm. Văn Hào, SDB)

9. Cẩm nang nhà truyền giáo (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An) 

10. Điều kiện cần của người thừa sai  (Jos. Vinc. Ngọc Biển)

11. Hãnh diện vì thập giá Đức Giêsu Kitô  (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ)

12. Con chiên giữa sói rừng (AM. Trần Bình An)

13. Cầu nguyện cho việc truyền giáo  (Lm. Anthony Trung Thành)

14. Bình an, hành trang của người truyền giáo  (Dã Quỳ)

15. Loan báo Tin mừng là sống chứng nhân (Lm. Đan Vinh)

16. Chúa Nhật 14 Thường niên_C (Lm. Antôn)

 

 

SỐNG VÀ LOAN BÁO TIN VUI

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
 
 Tín hữu là người cảm nhận được niềm vui khi theo Chúa và thao thức đem Tin vui ấy để kể lại cho mọi người. Năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố Tông huấn “Niềm vui của Tin Mừng”. Qua Tông huấn này, vị Chủ Chăn của Giáo Hội Công giáo mời gọi mọi thành phần Dân Chúa cảm nhận niềm vui của những người tin Chúa, đồng thời nhiệt thành cộng tác để loan báo niềm vui ấy cho mọi người sống trong thời đại hôm nay. Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Người loan báo Tin Mừng không bao giờ mang bộ mặt của một người vừa đi đưa đám về!… và chớ gì thế giới của thời đại chúng ta, một thế giới đang kiếm tìm, khi thì trong lo âu, khi thì trong hy vọng, có thể nhận được tin mừng không phải từ những người rao giảng rầu rĩ, chán nản, mất kiên nhẫn hay lo âu, nhưng từ những thừa tác viên Tin Mừng đang sống một cuộc đời đầy nhiệt huyết, những người trước đó đã nhận được niềm vui của Đức Kitô” (Số 10).
 
Khi trình bày đức tin, nhiều người trong chúng ta thường nhấn mạnh đến một chuỗi những ràng buộc mà ít khi đề cập đến niềm vui và vinh dự của người công giáo. Có lẽ vì thế mà đời sống đạo nơi một số tín hữu trở nên miễn cưỡng, nặng nề, không có sức thuyết phục đối với  anh chị em lương dân. Hãy nghe ngôn sứ Isaia, một người đã trải nghiệm niềm vui vì được Chúa yêu thương chăm sóc, diễn tả: “Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy…”. Người tin vào Chúa trước hết cảm thấy vui vì có Chúa giữ gìn. Mặc dầu trải qua biết bao thử thách và giông tố cuộc đời, họ vẫn vui vì đang sống trong sự chở che của Chúa và tin vào quyền năng của Ngài. Thiếu niềm vui trong đời sống đức tin, những thực hành đạo đức sẽ trở nên trống rỗng vô hồn. Bởi lẽ chính niềm vui thúc đẩy chúng ta mến Chúa và cầu nguyện với Ngài. Niềm vui thiêng liêng ấy cũng giúp ta được sức mạnh để vươn lên trong cuộc sống, quảng đại bao dung với tha nhân.
 
Tín hữu là người sống và loan báo niềm vui. Như Ông Môisen trong Cựu ước chọn bảy mươi hai vị kỳ lão, Chúa Giêsu sai bảy mươi hai môn đệ, để cộng tác với Người trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Chân dung người loan báo Tin vui được chính Chúa Giêsu phác họa. Họ không phải là nhà doanh nghiệp, không phải chính trị gia hay chuyên viên kỹ thuật. Họ đi đến mọi nẻo đường của cuộc sống. Món quà họ đem đến cho mọi người là sự bình an. Nội dung sứ điệp họ loan báo rất đơn giản: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”. Đây cũng chính là nội dung sứ điệp từ thời ngôn sứ Isaia: “Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết”. Điều các môn đệ đem đến cho mọi người, trước hết là niềm vui nội tâm do đức tin đem lại. Nhờ niềm vui thiêng liêng đó, mọi người nghe sẽ được thuyết phục và đón nhận Lời Chúa.
 
Ngày hôm nay, Chúa cũng vẫn gọi và sai chúng ta đi đến mọi nẻo đường của cuộc sống. Thừa sai là bản chất của Giáo Hội. Mọi thành phần dân Chúa đều được mời gọi sống ơn gọi thừa sai phù hợp với hoàn cảnh sống và điều kiện cụ thể của mình. Đây là điều ít được chúng ta chú ý. Một bệnh nhân ốm đau liệt lào; một người già yếu không mấy khi ra khỏi nhà; một người sống trong môi trường công nhân thợ thuyền… tất cả đều là những tông đồ đang được Chúa sai đi để loan báo Tin vui. Nội dung của lời loan báo rất đơn giản, đó là Chúa yêu con người và Ngài khuyên họ hãy sống ngay lành thánh thiện. Người được sai đi có trách nhiệm loan báo Lời Chúa, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện, kể cả trong trường hợp bị khước từ và xua đuổi. Giống như người gieo hạt cần mẫn miệt mài làm tròn bổn phận mình, còn Chúa sẽ làm cho hạt ấy nảy mầm và lớn lên.
 
Một khi xác tín vào tình yêu thương của Chúa, và chúng ta tìm được niềm vui nơi Ngài, những khó khăn ta gặp phải trên đường đời không làm ta sợ hãi và thất vọng. Thánh Phaolô, sau khi đã gặp gỡ Chúa Giêsu, đã đặt lý tưởng sống của mình nơi Người. Thánh nhân đã chia sẻ: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”. Đối với ngài, mọi cố gắng nỗ lực đều nhằm đến việc tôn vinh Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá. Thập giá, đau khổ là điều mà mọi người muốn né tránh, thì Thánh Phaolô lại coi đó là một vinh dự và là bằng chứng của tình Chúa yêu thương.
 
Những ai nhiệt thành loan báo niềm vui được Chúa Giêsu hứa ban phần thưởng cao quý, đó là tên của họ được ghi khắc trên trời. Đây là một cách diễn tả hạnh phúc vĩnh cửu mà Chúa ban cho những ai trung tín với Người. Ghi khắc tên của ai, là dành cho chính bản thân người ấy một vị trí trang trọng với sự thân thương trìu mến. Tên của người tông đồ sẽ được khắc ghi trong trái tim của Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn của hạnh phúc và là đích điểm của cuộc đời chúng ta.

Về mục lục

.

CHÚA SAI TÔI ĐI

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Ta thường nghĩ rằng: Việc truyền giáo là dành cho các Giám mục, các Linh mục, Tu sĩ. Giáo dân không được học hỏi gì nhiều làm sao có thể truyền giáo được? Truyền giáo phải có nhiều phương tiện vật chất. Thiếu phương tiện không có thể làm gì được. Đó là những quan niệm sai lầm mà Chúa vạch cho ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.

Chúa Giêsu cho ta thấy truyền giáo là công việc của mọi người khi Người sai 72 môn đệ lên đường. Mười hai Tông đồ có tên tuổi rõ ràng. Đó là thành phần ưu tuyển. Đó là các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ. Còn 72 môn đệ không có tên tuổi rõ ràng. Đó là một đám đông không xác định. Đó là tất cả mọi người giáo dân. Khi sai 72 môn đệ, Chúa Giêsu muốn huy động tất cả mọi người thuộc đủ mọi thành phần tham gia vào việc truyền giáo.

Giáo dân tham gia vào việc truyền giáo bằng cách nào? Trước hết phải ý thức sự cấp thiết của việc truyền giáo: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Lúa đã chín vàng, phải nhanh chóng gặt về không được chậm trễ, nếu không lúa sẽ hư hỏng. Biết bao anh em đang chờ đợi được nghe Lời Chúa. Biết bao anh em đang tìm kiếm Chúa. Biết bao tâm hồn đang mở cửa đón Chúa. Ta phải mau mắn để khỏi lở mất cơ hội.

Thứ đến ta phải cầu nguyện. Sau khi đã chỉ cho thấy đồng lúa chín vàng, Chúa Giêsu không bảo lên đường ngay, nhưng Người dạy phải cầu nguyện trước. Cầu nguyện là nền tảng của việc truyền giáo. Vì truyền giáo phát xuất từ ý định của Thiên chúa. Ơn hoán cải tâm hồn là ơn Chúa ban. Nên cầu nguyện chính là truyền giáo và kết quả của việc truyền giáo bằng cầu nguyện sẽ rất sâu xa. Ta hãy noi gươngThánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu. Vị Thánh sống âm thầm, suốt đời chôn vùi trong 4 bức tường Dòng Kín. Thế mà nhờ lời cầu nguyện, Thánh nữ đã đem được nhiều linh hồn về với Chúa không kém thánh Phanxicô Xaviê, người suốt đời bôn ba khắp nơi để rao giảng Lời Chúa.

Khi đi truyền giáo, hãy trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chúa dạy ta: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” để ta biết sống khó nghèo. Để ta đừng cậy dựa vào tài sức riêng mình. Để ta đừng cậy dựa vào những phương tiện vật chất. Biết mình nghèo hèn yếu kém, biết những phương tiện vật chất chỉ có giá trị tương đối, ta sẽ biết trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chính Chúa sẽ làm cho việc truyền giáo có kết quả.

Sau cùng, truyền giáo là đem bình an đến cho mọi người. Niềm bình an đến từ thái độ quên mình, sống chan hoà với những người chung quanh. Niềm bình an đến từ sự hiệp thông, có cho đi, có nhận lãnh. Và nhất là, niềm bình an vì được làm con cái Chúa, luôn sống dưới ánh mắt yêu thương của Chúa.

Như thế việc truyền giáo hoàn toàn nằm trong tầm tay của mọi người giáo dân. Mọi người đều có thể ý thức việc truyền giáo. Mọi người đều có thể cầu nguyện. Mọi người đều có thể trông cậy vào Thiên chúa. Và mọi người đều có khả năng cho đi, nhận lãnh, sống chan hoà với người khác

Như thế mọi người, từ người già tới em bé, từ người bình dân ít học đến những bậc trí thức tài cao học rộng, từ người khoẻ mạnh đến những người đau yếu bệnh tật, tất cả đều có thể làm việc truyền giáo theo ý Chúa muốn.

Hôm nay, Chúa đang than thở với mọi người chúng ta: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Chúng ta hãy bắt chước tiên tri Isaia thưa với Chúa: “Lạy Chúa, này con đây, xin hãy sai con đi”.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1- Bạn có thấy việc truyền giáo là cấp thiết không?

2- Theo ý bạn, muốn truyền giáo thành công trong vùng này, người tông đồ cần có những đức tính nào?

3- Bạn có bao giờ cầu nguyện cho việc truyền giáo, cho người làm việc truyền giáo, cho những người chưa biết Chúa ở chung quanh bạn không?

4- Bạn đã bao giờ tham gia vào việc truyền giáo trong Giáo xứ, trong Giáo phận chưa?

Về mục lục

.

LÀM GÌ CHO NGƯỜI NGHÈO?

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Cuộc sống quanh ta có rất nhiều những mảnh đời bất hạnh. Bất hạnh vì thiếu ăn. Bất hạnh vì bệnh tật. Có người bất hạnh tâm hồn. Có người đau khổ về thể xác. Nỗi đau nào cũng cần được chia sẻ. Nỗi khổ nào cũng cần sự cảm thông nâng đỡ. Bởi vì như ai đó nói rằng: “Có một đường đi – đi cùng sẽ vui hơn. Có một nỗi đau – đau cùng sẽ nguôi ngoai”. Cuộc sống sẽ bớt đi những tủi nhục, những đắng cay khi con người biết quan tâm chia sẻ tinh thần và vật chất cho nhau. Dòng đời sẽ không còn nước mắt của sự bỏ rơi, từ chối hay khước từ.
Hôm nay khi nhìn vào dòng đời với những đau khổ thiếu thốn của nhân loại. Chúa Giê-su mời gọi chúng ta hãy thực thi 3 việc để làm vơi đi nỗi đau cho nhân thế. Đó là cầu nguyện cho có nhiều sứ giả của lòng xót thương – sống thanh thoát để dễ dàng đến với người nghèo – sẵn lòng xoa dịu nỗi đau cho các bệnh nhân. Vì chưng, ở giữa dòng đời hôm nay vẫn còn đó những mảnh đời bất hạnh đang rất cần chúng ta trợ giúp. Họ đang tuyệt vọng bởi dòng đời vô tình đưa đến với họ biết bao tai ương hoạn nạn. Họ đang rên xiết từng ngày bởi thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu cả tình thương nơi đồng loại.
Mấy tháng qua cá miền trung chết cũng dẫn đến dân chài thất nghiệp. Nạn thất nghiệp sẽ kéo theo đói nghèo khổ đau. Hàng ngàn gia đình đang đối diện với cái đói, cái nghèo . . . Hằng ngày ta vẫn bắt gặp những mảnh đời đói khổ, bệnh tật vẫn đang lê bước mưu sinh bằng đủ nghề vé số, ve chai, cửu vạn . . . để kiếm sống qua ngày hay chỉ mong qua được cửa ải trần ai ! Họ chính là những hạt lúa mà Chúa Giê-su kêu mời chúng ta hãy nhanh tay cứu giúp họ. Họ đang cần chúng ta nâng niu, bảo vệ khỏi rầy nâu là sự dữ đang vây bủa chung quanh. Họ đang cần chúng ta cứu giúp họ vượt qua cái đói, cái nghèo, cái khổ đau. Đừng để họ rơi vào tuyệt vọng khiến họ thành mồi ngon cho ma quỷ dẫn lối lạc xa Chúa.  Hãy cho họ thấy cuộc đời này vẫn tươi đẹp vì vẫn còn tình người che chở, ôm ấp, nâng đỡ họ.
Theo tường thuật của Thánh Luca, Chúa Giêsu đã sai đi rao giảng không phải chỉ nhóm 12 tông đồ mà còn cả nhóm 72 môn đệ nữa. Luca muốn nhấn mạnh rằng không riêng gì các tông đồ, mà tất cả mọi người đều được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng. Ngài cũng sai “từng nhóm hai người”  như ngầm ngụ ý: việc loan Tin mừng không phải là việc của một cá nhân riêng lẻ, mà là việc của cộng đoàn, không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải liên đới và liên kết với nhiều người khác.
Bên cạnh đó, việc loan báo Tin mừng cũng phải được làm song song với việc thực hành lòng thương xót dành cho anh em. Lòng thương xót thể hiện qua việc chữa lành bệnh tật. Lòng thương xót qua việc cứu giúp anh em. Khi chúng ta sống đạo mến thương như thế cũng là cách chúng ta loan bao tin mừng cho nhân thế hôm nay.
Ở Giáo xứ Hà nội hàng tháng các bạn trẻ vẫn hăng hái thu gom ve chai để kiềm tiền phát gạo, làm nhà cho người nghèo. Nhìn thấy từng tốp bạn trẻ với chiếc xe kéo ve chai khiến tôi thầm cám ơn Chúa vì giữa một xã hội hưởng thự ích kỷ hôm nay, vẫn còn đó những tâm hồn quảng đại với tha nhân, vẫn còn đó những đôi chân thanh thoát sống hết mình với tha nhân. Cách sống của họ chính là lời rao giảng hùng hồn về lòng Thương xót của Thiên Chúa dành cho con người. Đôi chân của họ ra đi luôn để lại cho đời những dấu ấn của tình yêu được tô thắm bởi lòng hăng say phục vụ Thiên Chúa. Họ rao giảng không bằng lời mà bằng chính sức trẻ, sự năng động của trẻ luôn sống hết mình cho người nghèo và vì người nghèo.
Ước gì đời ky-tô hữu chúng ta luôn là một đời chứng nhân cho Lòng Thương Xót của Chúa bằng gương lành bác ái, bằng lời nói về Chúa cho tha nhân. Xin cho chúng ta luôn có trái tim biết chạnh lòng thương xót những mảnh đời bất hạnh quanh ta để nhanh tay chia sẻ, ủi an họ. Xin cho đôi chân chúng ta luôn nhanh nhẹn ra đi đến với mọi phận người khổ đau hầu xoa dịu nỗi đau cho nhân thế. Amen.

Về mục lục

.

TRỞ THÀNH SỨ GIẢ ĐEM BÌNH AN VÀ NIỀM VUI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Có một điều tưởng chừng như khó hiểu, Chúa nhật tuần trước, Chúa Giêsu mời gọi : Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo tôi, nhưng đến Chúa nhật này, Lời Chúa lại muốn chúng ta trở thành sứ giả đem niềm vui và bình an đến cho thế giới. Như thế, liệu chúng ta có thể vui khi vác thập giá theo Chúa Giêsu không ? Chúng ta có thể đem bình an đến cho người khác khi chúng ta phải từ bỏ chính mình không ?

Chắc chắn Chúa không bao giờ đòi hỏi những điều mâu thuẫn hoặc những điều không thể thực hiện. Vác thập giá mình bước theo Chúa, chúng ta vẫn là sứ giả của niềm vui và bình an, điều này tùy thuộc vào việc chúng ta bước theo Chúa với thái độ nào và đón nhận thập giá hằng ngày với thái độ ra sao mà thôi.

Trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhiều lần mời gọi : Những người sống theo Tin Mừng của Đức Giêsu, trở thành môn đệ của Ngài, luôn phải thể hiện được niềm vui trên gương mặt và trong cuộc đời của mình. Đức Thánh Cha còn nhấn mạnh : Tôi không muốn nhìn thấy Giáo Hội có những Kitô hữu mà lúc nào cũng mang gương mặt ủ dột, buồn chán. Nhưng trái lại, chúng ta luôn thể hiện niềm vui vì có Chúa trong tâm hồn, chúng ta sẽ trở thành sứ giả của niềm vui vì chúng ta biết mình được Chúa yêu thương.

Trước đây, trong Cựu Ước, người ta thường trình bày Thiên Chúa như một vị quan tòa công thẳng mà quên rằng, trước hết, Ngài vẫn là Cha yêu thương. Vì chỉ nhìn Thiên Chúa như một vị quan tòa, một Đấng quyền năng ngự trên ngai trời nên con người sợ hãi, chỉ dám đứng xa để chiêm bái thờ lạy thay vì yêu mến. Tiên tri Isaia đã trình bày Thiên Chúa như một người cha ân cần lo cho con cái, như một ông chủ tốt bụng. Thiên Chúa là Đấng sẽ thay đổi bộ mặt và vận mệnh của Giêrusalem, Ngài sẽ biến Giêrusalem trở nên thái bình thịnh vượng. Đức Chúa phán : Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành Đô mà hoan hỉ. Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sông cả, Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông và nâng niu trên đầu gối. Lòng các người sẽ tràn đầy hoan lạc và niềm vui. Như thế, niềm vui của Giêrusalem chính là niềm vui của dân Chúa. Vui, vì họ được Chúa yêu thương. Khi đã biết mình được yêu Chúa thương, chúng ta sẽ cảm nhận được hạnh phúc và bình an trong tâm hồn.

Tin Mừng hôm nay cho thấy, Chúa Giêsu chọn bảy mươi hai môn đệ và sai các ông đi đọn đường cho Chúa. Chúa cũng nhìn thấy một cánh đồng truyền giáo bao la đang thiếu những người thợ lành nghề, Chúa muốn các tông đồ cầu nguyện xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa. Có thể những đòi hỏi phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày là những điều kiện khó vượt qua đối với nhiều người, khiến họ ngại ngần bước theo Chúa. Chúa còn tiên báo những khó khăn trước mắt mà những người theo Chúa sẽ gặp phải, cùng những điều kiện phải có : Các con ra đi như chiên con vào giữa sói rừng. Đừng đem theo túi tiền, bao bị, giày dép.

Liệu mỗi chúng ta có vui và có bình an để ra đi loan báo Tin Mừng với những dự báo và những điều kiện của Chúa không ? Chắc chắn với những người bước theo Chúa vì miễn cưỡng hoặc vì một lý do nào đó, sẽ khó có thể chấp nhận lời mời gọi này. Ngược lại, những người nào đón nhận lời mời gọi này như là một ân ban của Chúa, sẽ có được niềm vui. Như thế, niềm vui của người theo Chúa hoàn toàn tùy thuộc vào thái độ chúng ta đón nhận mọi hoàn cảnh. Tin Mừng tuần trước chúng ta đã suy niệm về ơn gọi theo Chúa, quyết định này không thể là một quyết định bồng bột ngẫu hứng, nhưng là một chọn lựa quyết định tự do, sau khi đã suy nghĩ cân nhắc cách quảng đại.

Chúa muốn những sứ giả của Chúa ra đi với hai bàn tay trắng, không tiền bạc, cũng không tài sản, không lệ thuộc vào hình thức áo quần bên ngoài. Ra đi trong sự thanh thoát như thế, để các ông biết cậy trông vào Chúa và ý thức rằng thành quả các ông đạt được là do Chúa chứ không do của cải hoặc khả năng riêng của các ông. Chúa muốn các môn đệ chỉ mang một hành trang và cũng là tài sản duy nhất đó là sự bình an. Như thế, các môn đệ của Chúa trước tiên phải là những ngườicó sự bình an trong tâm hồn và đem bình an cho người khác. Để có được sự bình an thực sự trong tâm hồn, trước tiên tâm hồn phải có Chúa hiện diện. Đó là một tâm hồn sạch tội, không để trong mình sự thù oán gian dối quanh co, nhưng để Chúa làm chủ và điều khiển từng lời nói và hành động của mình. Kế đến, để có được sự bình an, cần có một tâm hồn thanh thoát, không dính bén vào của cải vật chất. Con người có xu hướng tìm an toàn và niềm vui nơi vật chất, nhưng thực tế, càng chạy theo vật chất và niềm vui của thế gian, con người càng mất an toàn và bất an trong tâm hồn. Một khi tâm hồn không có bình an, chắc chắn sẽ không có niềm vui, và không có niềm vui thì không thể biểu lộ trên gương mặt, trong cuộc sống và không thể đem niềm vui và bình an cho người khác.

Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói : Bình an cho nhà này ! Đây không chỉ là lời cầu chúc hoặc lời chào xã giao, nhưng Chúa cho thấy : Nếu nơi đó có ai xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy. Điều đó chứng tỏ rằng, bình an thật sự từ trong tâm hồn của người môn đệ Chúa, sẽ có tác động trên người khác qua con người, qua lời nói của người môn đệ. Cùng với sự bình an nội tâm là niềm vui sâu lắng được lan tỏa đến những người chung quanh : Nhà náo đón tiếp anh em, thì hãy ở lại trong nhà đó, ăn thức ăn người ta dọn cho. Một khi tự nguyện và hoàn toàn tự do bước theo Chúa, làm mộn đệ của Chúa, thì những khó khăn bên ngoài cũng như những thử thách của cuộc sống sẽ không thể làm lay động cuộc sống nội tâm của chúng ta. Một khi hoàn toàn tự do gỡ mình khỏi ràng buộc bởi vật chất và những chuyện ăn uống, chúng ta sẽ nếm hưởng được niềm vui sâu lắng trong tâm hồn.

Con người và thế giới hôm nay đang dư thừa sự ồn ào náo nhiệt, nhưng lại thiếu vắng niềm vui trong tâm hồn. Xã hội tạo rất nhiều sự thoải mái cho con người, nhưng vẫn không đem lại cho con người sự bình an thật sự. Nhiều người đang đầy ắp nỗi buồn sâu thẳm trong tâm hồn, khiến cho bên ngoài họ chỉ có thể nhe răng, chứ không thực sự cười vui, hoặc miệng mỉm cười nhưng ánh mắt vẫn buồn. Trong xã hội bất an và buồn chán hôm nay, mỗi chúng ta phải trở thành những sứ giả đem bình an và niềm vui đến cho cuộc sống xã hội này. Chúng ta sẽ phải sống niềm vui Tin Mừng nơi công ty, chỗ làm việc, để mọi người gặp gỡ, tiếp xúc với người Kitô hữu có thể cảm nhận được niềm vui và sự bình an từ chúng ta lan tỏa đến mọi người chung quanh. Là Kitô hữu, chúng ta vui vì biết Chúa và tin Chúa ; vui, vì chúng ta đang sống với niềm hy vọng hạnh phúc bên Chúa.

Được mời gọi trở thành sứ giả đem bình an cho mọi người, trước hết, hãy đem bình an về trong gia đình của mình. Nhiều gia đình đã mất bình an và niềm vui bởi các cuộc cãi vã tranh giành, nhiều gia đình buồn bã vì thiếu tiếng cười, nhưng lại dư thừa những lời chửi bới. Hãy bắt đầu bằng việc tái lập sự bình an trong tâm hồn, tìm lại niềm vui nội tâm nơi Bí tích Giải tội, hãy đem Chúa vào trong tâm hồn mình qua việc thường xuyên tham dự thánh lễ, rước lễ và đem Chúa về gia đình của mình. Có Chúa trong tâm hồn, chúng ta sẽ có sự bình an và trở thành người đem bình an cho gia đình và lối xóm.

Lời Chúa hôm nay cũng được gửi tới cách riêng cho các bạn trẻ là những người đang hiện diện trong mọi lãnh vực của xã hội. Thiên Chúa đang cần sự quảng đại và nhiệt thành của tuổi trẻ, Ngài đang cậy nhờ các bạn bước xuống cánh đồng thế giới hôm nay. Thiên Chúa đang muốn các bạn trở thành những người thợ lành nghề của Chúa. Dù làm bất cứ nghề liêm chính nào, các bạn luôn nhớ rằng mình là người thợ của Chúa. Như vậy, mình sẽ làm việc không chỉ với tư cách là một công nhân của một công ty, nhưng còn làm việc vì mình là thợ được Chúa huấn luyện và sai đến công ty này. Nơi đây, các bạn sẽ là người đem bình an và niềm vui đến cho các bạn công nhân khác, qua thái độ và tinh thần làm việc của mỗi người.

Có thể nhiều người trên miệng mỉm cười nhưng trong lòng vẫn chảy nước mắt. Còn chúng ta, dù cuộc sống khiến cho mồ hôi vẫn chảy trên trán, nhưng trên môi ta vẫn không mất đi nụ cười.

Xin Chúa ban cho chúng ta sự bình an và niềm vui thật trong tâm hồn để chúng ta có thể trở thành người đem nụ cười, niềm vui và bình an lan tỏa đến anh chị em và cuộc sống chung quanh. Amen.

Về mục lục

.

HÃY RA ĐI RAO GIẢNG TIN MỪNG

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Câu đầu trang Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu chọn thêm bảy mươi hai người nữa, và sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới (x. Lc 10, 1). Như thế, sứ mạng loan báo Tin Mừng không chỉ dành riêng cho nhóm 12 Tông Đồ, mà còn được trao cho các môn đệ khác nữa. Ðây là một đặc điểm tiêu biểu của thánh sử Luca khi muốn nhấn mạnh đến sứ mạng phổ quát của việc loan báo Tin Mừng trong đó chúng ta có nhiệm vụ này.

Trong Sứ Điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo Năm 2011, khi nhắc đến tính chất thời sự và cấp thiết của sứ vụ truyền giáo mà Chúa Kitô đã ủy thác cho Giáo Hội. Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết : “Sứ vụ này vẫn chưa được hoàn tất… Một cái nhìn chung về nhân loại cho thấy sứ mạng ấy vẫn còn ở giai đoạn khởi đầu và chúng ta phải hết sức dấn thân phục vụ sứ mạng ấy” (J.P. II, RM 1). Chúng ta không thể tiếp tục an tâm khi nghĩ rằng sau hai ngàn năm, vẫn còn những dân tộc không biết Chúa Kitô và chưa được nghe biết sứ điệp cứu độ của Ngài. 

Đúng là “lúa chín thì nhiều, nhưng thợ gặt lại ít” (Lc 10,2). Lời Chúa Giêsu cách đây gần 2000 năm vẫn còn luôn thời sự, Ngài mời gọi chúng ta : “Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người” (Lc 10,2). Cánh đồng của Thiên Chúa thật bát ngát mênh mông, những người được sai đi thỏa sức làm việc. Nhưng Chúa Kitô không phải chỉ giới hạn trong việc sai đi, Chúa còn trao cho các nhà truyền giáo những quy luật rõ ràng để hành xử. Trước hết, Chúa “sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới ” (Lc 10,1), để họ giúp đỡ lẫn nhau và làm chứng cho tình yêu huynh đệ. Chúa cảnh báo cho họ biết trước là họ sẽ như “chiên ở giữa sói rừng” (Lc 10,3), nghĩa là trước sự dửng dưng, không đón tiếp, có khi bị từ chối, bị ngược đãi, bị bắt bớ bởi thế gian dành cho họ, hiền hoà là thái độ luôn cần phải có. Vì là sứ giả hòa bình, nên họ phải mang trong mình sứ điệp hoà bình ấy như lời Chúa dạy : “Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: Bình an cho nhà này” (Lc 10,3), và Chúa khuyên họ : “Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép” (Lc 10, 4). Tại sao vậy? Thưa là để người được sai đi sống với những gì Chúa Quan Phòng an bài cho họ ; họ sẽ chăm sóc cho những kẻ đau yếu như là dấu chỉ của lòng thương xót Chúa; nơi nào họ bị khước từ, thì đi nơi khác, chỉ cần cảnh báo nơi đó về trách nhiệm khước từ Nước Thiên Chúa. Thánh sử Luca làm nổi bật lòng hăng say của các môn đệ vì những kết quả tốt của sứ mạng, và ghi lại lời nói đẹp sau đây của Chúa Giêsu : “Các con chớ vui mừng vì các thần phải vâng phục các con, nhưng hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên trời” (Lc 10,20).

Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới, con người đang tìm kiếm sự sung túc, dễ dàng, công danh sự nghiệp và thành công như mục đích của cuộc sống, gây thiệt hại cho các giá trị luân lý, sống xa rời Sứ điệp Tin Mừng, và sống như thể không có Thiên Chúa.

Trang Tin Mừng trên đây khơi dậy nơi chúng ta, những người đã lãnh nhận bí tích Rửa tội ý thức làm nhà thừa sai của Chúa Kitô, những kẻ được gọi để chuẩn bị đường cho Chúa, bằng lời nói và bằng chứng tá đời sống. Vì Thánh Phêrô nói : “Tin mừng không phải là một thiện ích dành riêng cho người lãnh nhận, nhưng là một hồng ân cần phải được chia sẻ, một tin vui cần phải thông truyền. Hồng ân – Nghĩa vụ này được ủy thác không phải chỉ cho vài người, nhưng cho tất cả các tín hữu đã chịu phép rửa…” (1 Pr 2,9).

Vì vậy không lạ gì khi Công đồng Vaticanô II và Huấn quyền của Hội Thánh luôn nhấn mạnh cách đặc biệt về nhiệm vụ truyền giáo mà Đức Kitô đã uỷ thác cho các môn đệ của Người, và là nhiệm vụ mà toàn thể Dân Thiên Chúa: các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ và giáo dân phải dấn thân thực hiện. Hội Thánh phải cảm thấy lệnh truyền rao giảng Tin Mừng của Chúa chất vấn mình mãnh liệt, để Đức Kitô được rao giảng khắp nơi.

Là những tín hữu trong Đức Kitô, chúng ta phải tiếp bước Thánh Phaolô Tông Đồ, là “tù nhân của Đức Kitô vì anh em, những người dân ngoại” (Ep 3, 1), ngài đã chịu đau khổ và chiến đấu để đem Tin Mừng đến giữa dân ngoại (x. Cl 1, 24-29), không ngại tiêu hao sức lực, thời giờ và của cải để loan báo Sứ điệp của Đức Kitô.

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Thông điệp Redemptoris Missio viết:“Chúng ta không thể ngồi yên khi nghĩ tới hàng triệu anh chị em chúng ta đang sống trong tình trạng không biết đến tình yêu của Thiên Chúa, chính họ cũng được cứu chuộc bằng máu Chúa Kitô” (số 86).

Khi công bố Năm Đức Tin, Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã viết rằng :“Đức Kitô hôm nay cũng như hồi ấy, sai chúng ta đi khắp các nẻo đường trên thế giới để loan báo Tin Mừng của Người cho mọi dân tộc trên mặt đất” (Tông Thư Porta Fidei, 7).

Hướng tới kỷ niệm 90 năm thành lập Ngày Thế Giới truyền Giáo vào chúa nhật 23 tháng 10 năm 2016 tới đây với chủ đề “Giáo Hội Truyền Giáo, Chứng Tá Của Lòng Thương Xót”, Đức Giáo hoàng Phanxicô đề cao vai trò của phụ nữ và các gia đình trong việc biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài khẳng định : “Khi đón nhận và theo Chúa Giêsu qua Tin Mừng và các bí tích, nhờ tác động của Chúa Thánh Linh, chúng ta có thể trở nên người có lòng thương xót như Cha chúng ta trên trời, học yêu thương như Chúa yêu thương chúng ta và biến cuộc sống chúng ta trở thành một món quà nhưng không, dấu chỉ lòng nhân lành của Ngài” (Misericordiae Vultus 3).

Chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần xuống tràn đầy trên việc loan báo Tin Mừng, đặc biệt trên những ai đang làm việc trên cánh đồng truyền giáo. Nguyện xin Mẹ Maria, Mẹ Hội Thánh, Ngôi Sao dẫn đường loan báo Tin Mừng đồng hành với tất cả các sứ giả của Tin Mừng. Amen.

Về mục lục

.

NIỀM VUI THÁNH ĐỨC

Trầm Thiên Thu

Càng thêm tuổi thì người ta càng “ngộ” ra nhiều điều. Người ta gọi đó là kinh nghiệm, nói theo bình dân là tình trạng “đụng chạm” – “đụng” nhiều thì “chạm” nhiều. Đơn giản mà chí lý!

Một trong những điều người ta “ngộ” ra là nhận thấy rằng cuộc đời có gì đó xem chừng “bất ổn” lắm: buồn nhiều, vui ít. Thảo nào Chúa Giêsu luôn nhắc nhở: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Mt 16:24; Mc 8:34 ; Lc 9:23).

Buồn nhiều thì chắc rồi , vì “đời là bể khổ” mà. Nhưng vui ít chứ không phải là không vui. Tuy nhiên, vấn đề là vui vì cái gì? Có nhiều dạng và nhiều mức độ vui. Niềm vui sẽ hóa nỗi buồn: Tiệc vui tan, rồi hóa kỷ niệm. Kỷ niệm chứ có thật đâu mà vui. Nhưng niềm vui của Kitô hữu là niềm vui cao thượng, người ta khả dĩ vui ngay trong nỗi gian nan, hoạn nạn. Tại sao vậy? Vì họ luôn tín thác vào Thiên Chúa – Đấng quan phòng và tiền định mọi sự. Đó là niềm vui, vui vì an tâm!

Trước tiên, ngôn sứ Isaia xác định: “Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ, hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô! Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng, hỡi tất cả những người đã than khóc Thành Đô, để được Thành Đô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ” (Is 66:10-11). Niềm vui như thế thật là tốt lành, vì niềm vui đó mang tinh thần tín thác vào Thiên Chúa, biết tín thác là cách sống khôn ngoan và khiêm nhường. Điều đó chắc chắn Thiên Chúa rất hài lòng.

Thiên Chúa hài lòng thì Ngài sẽ ban cho cuộc sống phong phú, dồi dào, thoải mái, đúng như Ngài đã hứa: “Này Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sông cả, và Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về” (Is 66:12-13). Điều gì Ngài đã hứa thì Ngài sẽ hoàn tất theo cách quan phòng và tiền định của Ngài.

Với cảm nhận bản thân, tác giả Thánh Vịnh chia sẻ thực tế tâm linh: “Nhìn thấy thế, lòng các bạn sẽ đầy hoan lạc, thân mình được tươi tốt như cỏ đồng xanh. Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết, và nổi cơn thịnh nộ với các kẻ thù” (Is 66:14). Có hai vế rõ ràng: ai thuận với Thiên Chúa thì hạnh phúc và vui sống, ai đối nghịch với Ngài thì thua thiệt.

Đó là hệ lụy tất yếu. Điều đó được minh chứng qua lời của tác giả Thánh Vịnh: “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh! Hãy thưa cùng Thiên Chúa: Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài! Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm. Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh” (Tv 66:1-4).

Hệ lụy đó còn được xác nhận thêm một cách hùng hồn: “Đến mà xem công trình của Thiên Chúa: hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ! Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền, và dân Người đi bộ qua sông; việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ. Chúa uy dũng hiển trị muôn đời; đôi mắt Người theo dõi chư dân, quân làm phản chớ có hòng nổi dậy!” (Tv 66:5-7). Chắc chắn chỉ có Thiên Chúa mới làm được những điều kỳ diệu như vậy. Điều này mặc nhiên rằng chẳng có bất cứ thần linh nào khác có thể làm được như vậy.

Vô tri bất mộ. Biết rồi thì tin, tin rồi thì yêu, không ai có thể trì hoãn cái sự sung sướng đó được, không thể im lặng, vì tình yêu luôn vị tha, nghĩa là người ta phải chia sẻ điều đó cho mọi người cùng biết và cùng hưởng niềm vui đó: “Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời, đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi” (Tv 66:16). Thiên Chúa là Đấng trung tín (2 Tx 3:3), luôn “giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2:4). Thật vậy, tác giả Thánh Vịnh dẫn chứng cụ thể: “Xin chúc tụng Thiên Chúa đã CHẲNG bác lời thỉnh nguyện tôi dâng, lại cũng KHÔNG dứt nghĩa đoạn tình” (Tv 66:20).

Cảm nghiệm niềm vui được biết Thiên Chúa, Đức-Kitô-chịu-đóng-đinh, Thánh Phaolô chia sẻ: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Gl 6:14). Loại ước mơ như thế thực sự “rất lạ”, hoàn toàn “khác người”, thậm chí là “ngược đời”. Nếu không có niềm tin sâu sắc thì không thể nào hiểu nổi loại ước mơ “độc đáo” của Thánh Phaolô.

Với niềm tin vào Đức Giêsu Kitô và với niềm vui trong Ngài, Thánh Phaolô xác nhận và chia sẻ: “Quả thật, cắt bì hay không cắt bì chẳng là gì cả, điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới. Chúc tất cả những ai sống theo quy tắc ấy, và chúc Ít-ra-en của Thiên Chúa được hưởng bình an và lòng thương xót của Người. Từ nay, xin đừng có ai gây phiền toái cho tôi nữa, vì tôi mang trên mình tôi những dấu tích của Đức Giêsu. Thưa anh em, nguyện xin Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho thần trí anh em được đầy tràn ân sủng” (Gl 6:15-18).

Trình thuật Lc 10:1-12 và 17-20 cho biết “bài sai” của Đức Giêsu dành cho bảy mươi hai môn đệ là “đi rao giảng Tin Mừng” nhưng với điều kiện là “không đòi hỏi thứ gì” từ người khác.

Chúa Giêsu bảo các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Ngài sẽ đến. Ngài nói rõ: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. ĐỪNG mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng ĐỪNG chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: ‘Bình an cho nhà này!’. Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. ĐỪNG đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em”.

Một loạt mệnh lệnh cách – bao gồm cả phủ định và xác định. Chúa Giêsu bảo họ KHÔNG ĐƯỢC ĐÒI HỎI bất cứ điều gì, có sao hưởng vậy. Có lẽ đây là một trong những câu “chói tai” mà người ta không muốn đề cập hoặc bị người khác nhắc nhở.

Tuy nhiên, chấp nhận hoặc bằng lòng với những gì mình có là một dạng hạnh phúc giản dị mà kỳ diệu, không chấp nhận những gì mình có hoặc đòi hỏi thì chỉ là tự làm khổ mình (và làm khổ người khác). Chấp nhận điều kiện sống hiện tại không là thúc thủ hoặc miễn cưỡng với số phận, nhưng chấp nhận với niềm lạc quan và tín thác vào Thiên Chúa để Thánh Ý Chúa được nên trọn (x. Mt 26:42; Lc 23:34).

Chấp nhận hiện tại, không đòi hỏi cho mình, nhưng biết sống vì người khác, giúp ích cho tha nhân. Thật vậy, Chúa Giêsu căn dặn: “Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: ‘Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông’. Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón thì anh em ra các quảng trường mà nói: ‘Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần’. Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó”.

Nhóm Bảy Mươi Hai ra đi và đạt được kết quả mỹ mãn. Khi trở về, họ hớn hở khoe Sư Phụ rằng họ đã rao giảng, ai cũng vui nghe đến danh Thầy, ngay cả ma quỷ cũng phải khuất phục họ. Nhưng Đức Giêsu nghiêm túc và thẳng thắn nói: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên, anh em CHỚ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng HÃY mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10:18-20).

Ngày nay chúng ta cũng vậy, làm được việc gì đó thì vội kiêu hãnh, tưởng mình “ngon” hơn người, chạy theo hư danh trần tục mà quên rằng mình chẳng là chi cả, chỉ là “đầy tớ vô dụng” mà thôi (x. Lc 17:10). Quả thật, không có Chúa Giêsu thì chẳng ai làm được điều gì (x. Ga 15:5). Vả lại, nếu có làm được gì thì đó là bổn phận và trách nhiệm phải làm thay cho người khác, vì sáng danh Thiên Chúa chứ không phải vì vinh danh mình. Thiết tưởng cũng cần nhớ lại gương của ngôn sứ Gioan Tẩy Giả: “Người phải NỔI BẬT lên, còn tôi phải LU MỜ đi” (Ga 3:30).

Đó là khiêm nhường (khiêm nhu, khiêm hạ, khiêm tốn). Khiêm nhường là loại niềm vui thánh đức. Thánh Phaolô vui mừng vì Thập Giá của Đức Giêsu Kitô. Chúa Giêsu bảo các môn đệ hãy vui mừng vì tên được ghi vô Sổ Trường Sinh chứ không phải vì làm được công to việc lớn gì cả. Những điều này không hề đối lập mà lại rất hợp lý.

Khiêm nhường trái ngược với kêu ngạo. Kinh Thánh xác nhận: “Kiêu hãnh đi liền với ô nhục, khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường” (Cn 11:2). Chúa Giêsu luôn muốn chúng ta biết quên mình vì người khác, nhưng đôi khi chúng ta lại thích làm ngược lại: muốn người khác hy sinh vì mình. Nhận xét của Napoléon thật đáng để chúng ta xét mình: “Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ KHÔNG phải vì tội ác của những kẻ xấu, mà là VÌ sự im lặng của những người tốt.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết mau mắn và vui mừng thi hành Ý Ngài dành cho con trong mọi hoàn cảnh. Xin cho con biết hết lòng tin tưởng vào Ngài, không bao giờ cậy dựa vào hiểu biết của con (Cn 3:5), để con có được niềm vui thánh đức nơi Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

NGUYÊN NHÂN CỦA NIỀM VUI KITÔ HỮU

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Không ai đón nhận mừng vui vì thất bại! Người ta vui mừng khi thành công, nhất là thành công trong các công việc đầy gian nan thử thách (cứ xem bóng đá hay bất cứ môn thể thao nào là tất biết: người người, từ cầu thủ đến cổ động viên, đều nhẩy mừng hân hoan sau mỗi bàn thắng vất vả). Chẳng lạ gì mà Nhóm Mười Hai, sau một chuyến hành trình truyền giáo đầy khó khăn, đã trở về hớn hở mừng vui vì: “Đến cả ma quỉ cũng phải khuất phục chúng con!” Công tác mà các ông đã chu toàn quả là cực kỳ khó khăn đối với từng cá nhân, khó như ‘chiên con đi vào giữa bầy sói’ – hình ảnh Đức Giê-su sử dụng. Đã thế trước đó, Người còn cho huấn dụ đòi các ông phải ra đi trong tình trạng thiếu thốn mọi phương tiện hỗ trợ, không chỉ vì miễn cưỡng nhưng có chủ đích rõ ràng… Thế mà các ông – những con người tầm thường lại đã hoàn thành công tác được trao cách xuất sắc; không mừng sao được!

Thế nhưng, phản ứng của Đức Giê-su trước điều này mới thật bất ngờ tới độ gây sốc: có vẻ như Người không tán đồng với niềm phấn khởi vì thành công rất đáng biểu dương đó. Người không chỉ khôn ngoan cảnh giác các ông rằng thành công có thể tiềm ẩn một cạm bẫy đầy nguy hiểm: “Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống…Anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em”, mà còn chỉ cho thấy niềm vui và tự hào chân thực của người môn đệ phải dựa trên một cơ sở khác. Câu xác quyết của Người về vấn đề này thật khó hiểu, chứa đựng nhiều uẩn khúc: “Nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời!” Thiết tưởng chúng ta cần dành chút thời giờ để tìm hiểu hậu ý Đức Giê-su muốn nói gì qua lời phát biểu lạ đời trên; bởi vì nếu hiểu được điều này ta mới có cơ may nghiệm ra điều gì đích thị là mục tiêu của những nỗ lực xây dựng niềm tin Ki-tô hữu hay sống Tin Mừng của chúng ta.

‘Cảnh giác khi thành công’… điều này đã được nhiều nhà hiền triết nhắc nhở; thành công có thể dẫn đến tự mãn, tự kiêu… và làm cho mờ mắt để không nhận ra, hoặc quên mất vai trò của Thiên Chúa trong đời sống mình; “Thầy đã ban cho anh em quyền năng”. Bình thường thì, nếu tránh được khuyết điểm này, thành công chân chính cũng rất đáng vui mừng chúc tụng lắm chứ! Không ai ngăn cấm diễn tả một niềm vui chính đáng, và hẳn Đức Giê-su cũng không! Thế nhưng hình như Người vừa nhắc tới một niềm vui còn quan trọng và lớn lao hơn cả thành công, điều mà rất thường khi các môn đệ (và cả chúng ta nữa) đã quên mất: “Vui vì tên anh em đã được ghi trên trời”. Niềm vui này có vẻ quá thụ động, chẳng có gì đáng tự hào, chẳng có gì là thành tích vẻ vang; đơn giản nó giống như niềm vui bỗng dưng trúng số vậy!

Đúng vậy, trong đời sống đạo hàng ngày, rất nhiều người chúng ta dễ dàng quên đi mất niềm vui đặc biệt này, nhất là những ai tỏ ra quá quan tâm tới phần rỗi linh hồn mình, người ta vẫn thường quan niệm: việc giữ đạo là một cuộc chiến đấu trường kỳ, đầy cam go thử thách; với ơn Chúa đỡ nâng, ta phải ra công chiến đấu sao cho có thể chiến thắng được ba thù. Ta mừng vui mỗi khi vượt thắng được một cơn cám đỗ, và rất đau buồn khi không may sa ngã vì yếu đuối; thế nhưng, có lẽ chính vì cuộc chiến thiêng liêng này được thực hiện với quá nhiều quyết tâm mà việc giữ đạo của ta trở thành một nỗi lo nhiều hơn là nỗi mừng.

Trong dịp mừng kim khánh khấn dòng, nhiều anh em đã nhắc khéo tôi là: phải đợi tới sau khi tắt thở, ta mới có thể yên tâm được rằng mình có bền đỗ hay không. Phải chăng họ có lý? Tuy nhiên qua câu gợi ý ấy, tôi thấy phảng phất đâu đó một mối lo, lo rằng mình không vững mạnh đủ để bền đỗ, rằng kiếp sống con người quá mỏng dòn. Theo lối suy nghĩ thông thường thì: mối lo sợ này rất là chính đáng và có nền tảng dựa trên kinh nghiệm hiện sinh hằng ngày; tuy nhiên đứng trước Tin Mừng thì hình như nó trở thành khập khiễng và hụt hẫng sao đó: đức tin Ki-tô hữu đâu có mục đích đặt tôi đối diện với một Thiên Chúa xét xử nghiêm minh, nhưng đối diện với một Giê-su Ki-tô đến không phải để luận phạt nhưng để cứu vớt (Ga 12:44-50). Đức Giê-su là người duy nhất đã mạc khải về một Thiên Chúa nhân ái và hay thương xót, Đấng tự ngàn xưa đã ghi tên tôi trong sổ hằng sống, trước cả khi tôi lập được công nghiệp.

Như vậy thì chỉ niềm tin vào Đức Ki-tô mới là gia tài quí giá nhất mà tôi cần lưu giữ, là niềm hy vọng vững vàng nhất mà tôi phải nuôi dưỡng, chứ đâu phải quyết tâm thủ đắc được các nhân đức hay đạt tới mức trọn lành qua dày công tu luyện. Trên con đường thiêng liêng của Tin Mừng, tôi không được phép đánh giá mức tiến bộ dựa trên các thành quả nhân đức hay thánh thiện mình đạt được. Mục tiêu đời sống tu sĩ của tôi đâu có phải là đạt tới chế ngự bản thân tới cấp độ thượng thừa có khả năng khuất phục được cả quỷ thần hay các dục vọng lăng loàn. Chính Tin Mừng dạy cho tôi biết: tự bản chất con người luôn là yếu đuối, nhưng chỉ cần đặt niềm tin tuyệt đối nơi Đức Ki-tô Giê-su để nhận biết Thiên Chúa xót thương và cứu độ, thế là tôi có thể bảo đảm ‘tên mình đã được ghi trên trời’. Mọi Ki-tô hữu đều biết rằng: chính khi cảm thấy thấp hèn và tội lỗi nhất, nhưng với lòng chân thành sám hối, họ nghiệm ra lòng Chúa xót thương là lớn hơn tất cả mọi sự, rằng tên mình đã bảo đảm được Đức Ki-tô ghi sâu trong trái tim nhân ái của Người, và như thế là phần rỗi linh hồn của họ chắc chắn được đảm bảo. Lúc đó, vâng chỉ lúc đó, họ mới nếm cảm được niềm vui thuần khiết, niềm vui chiến thắng, niềm vui mà Đức Giê-su vừa trang trọng nhắc nhở các môn đệ của mình: “Vui vì tên anh em đã được ghi trên trời”, niềm vui trọn vẹn nhất.

Phần tôi thì thế nào: tôi có thường xuyên cảm thấy niềm vui sâu xa nhất này trong thẳm sâu cõi lòng mình hay không? Phải chăng đón nhận Tin Mừng cứu độ mới thực sự là cứu cánh duy nhất của đời tôi? Phải chăng tôi vẫn coi được cứu rỗi là một ân huệ của Chúa, và tôi sẽ chỉ bảo đảm được nó trong niềm tin vào Đức Ki-tô Giê-su mà thôi?

Lạy Chúa, xin cất khỏi lòng con mối lo sợ âm ỷ do các yếu đuối và sa ngã hàng ngày tạo nên trong con; xin đổ đầy tâm hồn con niềm vui được lòng nhân ái Chúa ghi tên vào sổ hằng sống, bất chấp tất cả những giới hạn tội lỗi của bản thân. Trong đời sống thiêng liêng, con thà đánh mất tất cả các nhân đức đã dày công tu luyện trong nhiều năm tháng, nhưng xin Chúa giữ gìn con để không bao giờ… vâng, không khi nào đánh mất niềm tin vững chắc vào lòng Chúa xót thương sẽ cứu độ con. A-men.

Về mục lục

.

BÌNH AN – QUÀ TẶNG CỦA CÁC MÔN ĐỆ ĐỨC GIÊSU

Lm. Văn Hào

Bình an chính là ân ban của Thần Khí, là quà tặng ý nghĩa nhất mà Đức Giêsu đem đến cho các Tông Đồ trong ngày Phục sinh. Giáo hội hằng ngày vẫn dâng lên Chúa lời cầu nguyện xin ơn bình an mỗi khi cử hành Thánh lễ. Cả ba bài đọc Lời Chúa hôm nay cũng nói về sự bình an, là ân ban Thiên Chúa đem đến cho nhân loại trong thời kỳ thiên sai (bài đọc 1), là món quà mà Thánh Phaolô đã trải nghiệm cùng với Lòng Thương xót Chúa (bài đọc 2), và cũng là hành trang các Tông đồ đem theo trong hành trình truyền giáo (bài Tin mừng).

Ơn Bình an được ban tặng như thế nào?

Trong bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Isaia tiên báo rằng, ơn ‘thái bình’ được tuôn đổ xuống thành đô Giêrusalem tựa dòng sông cả (Is 66,10-14). Vị ngôn sứ phóng tầm nhìn về kỷ nguyên mới, lúc Đức Chúa Giavê thực hiện ơn cứu độ một cách sung mãn. “Này Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, được nâng niu trên đầu gối”. Đây là thời thiên sai, lúc Đức Chúa biểu dương quyền lực và tình thương của Ngài. Trong cái nhìn thần học, ơn bình an này không chỉ khép kín trong ý niệm về một thế giới im tiếng súng, vắng tiếng đạn, nhưng bình an mà Thiên Chúa ban tặng chính là đỉnh cao của ân phúc khi Thiên Chúa ra tay cứu độ dân Ngài. Cũng tương tự như thế, Thánh Phaolô cầu chúc cho cộng đoàn Galát được hưởng sự bình an và lòng thương xót Chúa. Ngài mang kinh nghiệm của chính bản thân để mời gọi cộng đoàn đón nhận ơn bình an này, đó là phải kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu trong mầu nhiệm Thập giá. “Nhờ Thập giá của Đức Giêsu, thế gian đã bị đóng đinh vào Thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian.Vì tôi mang trong mình dấu tích của Đức Giêsu”. Như vậy trong thời kỳ ân điển của Thần Khí, Đức Giêsu đấng bị đóng đinh đã sống lại, sẽ phủ lên thế giới này ngập tràn sự bình an, là quà tặng cao quý nhất mà Thiên Chúa đem đến nhờ Thánh Thần. Thánh Phaolô còn nói rõ hơn trong thư gửi giáo đoàn Rôma : “Hướng đi của Thần khí là sự sống và bình an (Rm 8,66).

Như thế, chúng ta phải hiểu ơn bình an mà phụng vụ hôm nay nói tới trong cái nhìn Kitô học. Đây là quà tặng gắn kết với mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh mà Thánh Phaolô nhắc đi nhắc lại khá nhiều lần. Sau khi Đức Giêsu sống lại, Ngài hiện ra với các tông đồ, cho thấy các dấu tích cuộc tử nạn nơi thân thể Ngài. Sau đó, Chúa thổi hơi tuôn đổ Thần khí và ban bình an cho các ông (Ga, 20,22; Mt 28,16-20).

Cũng vậy, trong bài Tin mừng hôm nay, Thánh Luca thuật lại việc Chúa Giêsu sai 72 môn đệ đi thực tập truyền giáo. Ngài dặn các ông: “Khi vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói : Bình an cho nhà này. Nếu ở đó có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy, bằng không thì bình an sẽ trở lại với anh em (Lc 10,5-6).

Như vậy, bình an trước hết là quà tặng đến từ Thiên Chúa và ơn bình an được ban xuống luôn kèm theo những điều kiện cần thiết.

Điều kiện để hưởng bình an

Sống trong một thế giới mà chiến tranh lúc nào cũng như sắp sửa xảy ra, người ta cảm thấy lo sợ. Vì thế, sau đệ nhị thế chiến, các quốc gia trên khắp thế giới phải ngồi lại để bàn thảo những phương thế cổ xúy cho hòa bình. Tổ chức Liên Hợp Quốc được hình thành từ đó và 6 quốc gia được bầu chọn làm “Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc”. Trong phiên họp đầu tiên, ông Krouchev, tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô đã sừng sỏ chỉ tay vào vị đại diện Tòa Thánh tại bàn hội nghị và sẵng giọng nói: “Giáo Hoàng của các ông có trong tay bao nhiêu sư đoàn, mà dám cho người đại diện đến đây để bàn về hòa bình với chúng tôi”.

Người ta vẫn thường nghĩ rằng, bình an là một món hàng có thể sắm bằng sức mạnh quân sự, mua bằng đô-la hay dầu hỏa. Nhưng đối với Đức Giêsu thì không phải vậy. Hòa bình hay bình an đích thực chỉ có được khi chúng ta biết sống theo hướng đi của Thần khí. Đó là Thần Khí của Chân lý, của Sự thật, không có gian dối hay lừa lọc, không có bạo lực hay giết chóc, không oán thù hay ghét ghen. Vì vậy, để huấn luyện các môn đệ, Ngài sai các ông đi thực tập truyền giáo với quà tặng bình an. Quà tặng này đi kèm theo điều kiện là ‘không mang theo túi tiền, bao bị hay giày dép…’, tức là sống tinh thần nghèo khó một cách triệt để. Chúng ta vẫn thường hát lên ‘Kinh hòa bình’, lời kinh của Thánh Phanxicô Assisi, sứ giả của bình an, và Ngài cũng là khuôn mẫu cho chúng ta về tinh thần nghèo khó phúc âm.

Kết luận

Khi Chúa Giêsu giáng sinh, các Thiên Thần ca hát vang trời: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Những người thiện tâm và hưởng nhận ơn bình an đầu tiên ấy chính là các mục đồng, những đứa trẻ chăn trâu ngoài đồng nghèo xơ nghèo xác, những con người thấp kém và bị quên lãng trong xã hội thời bấy giờ. Cũng vậy, Chúa sai các môn đệ đi truyền giáo để ban bình an, đồng thời Ngài đòi hỏi các ông phải sống thật thanh thoát trong tinh thần khó nghèo, cắt đứt mọi dính bén trần thế. Điều Chúa đòi hỏi cũng là thách đố đối với chúng ta hôm nay, khi đang sống giữa một thế giới duy vật, thượng tôn chủ nghĩa hưởng thụ và chạy theo của cải vật chất. Còn chúng ta, chúng ta chọn cuộc sống phú túc giàu sang hay chọn bình an mà Thiên Chúa ban tặng?

Về mục lục

.

CẨM NANG NHÀ TRUYỀN GIÁO

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai. Ngài cho các ông sống bên cạnh mình. Ngài trực tiếp huấn luyện bằng cách cho các ông được nghe những lời Ngài giảng, được xem những việc Ngài làm. Sau đó, Ngài sai các Tông đồ ra đi thực tập truyền giáo. Chúa Giêsu còn chọn thêm nhiều môn đệ nữa. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy 72 môn đệ được sai phái thêm sau chuyến sai đi Nhóm Mười Hai (Lc 9,1-6) vì “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Lc 10,2). Thánh Luca muốn nhấn mạnh rằng, không riêng gì các Tông đồ, mà tất cả mọi người đều được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng. Hai động từ “gọi, sai đi” diễn tả rõ rệt ơn gọi của các môn đệ. Trước khi các học trò lên đường, Chúa Giêsu căn dặn nhiều điều như là hành trang cần thiết cho sứ vụ tông đồ. M. Quesnel ví những lời đó như “một loại thủ bản, một cẩm nang cho một nhà truyền giáo hoàn hảo”1.

  1. Hành trang Tông đồ

Hành trang đi đường chỉ là: cây gậy, đôi dép, không mang hai áo. Ý nghĩa ở đây là những kẻ được sai đi phải là những con người thanh thoát, không cồng kềnh nặng nề với của cải vật chất để có thể luôn sẵn sàng lên đường ra đi cho sứ vụ.

Chuyến đi nào cũng cần đến những hành trang. Hành trang cồng kềnh bước đi sẽ chậm. Hành trang gọn nhẹ bước tới sẽ nhanh. Hàng trang càng được tinh giản chỉ còn lại những gì thiết yếu nhất thì bước chân cũng sẽ thanh thoát khai lối cho mùa sứ vụ.

Hành trang của những kẻ lên đường xem ra chẳng có gì. “Gậy và dép” như gợi lại buổi Xuất hành. Nhẹ nhàng quá! Bận vướng với của cải đất đai sản nghiệp đùm đề làm sao có đủ tự do để bứt ra mà dứt khoát lên đường?

Hành trang của những kẻ lên đường xem ra chẳng có gì. “Không bánh, không bị, không tiền, không hai áo”. Nghèo khó quá! Chả bù cho con người ngày nay luôn biết tích lũy lo xa, có của ăn chưa đủ, còn có của để dành nữa. Nhưng cái nghèo về tài sản lại cho thấy cái giàu về đức hạnh. Không lo chiếm hữu hoặc gắn bó với của cải vật chất, người Tông đồ trở nên thanh thản lên đường bất cứ lúc nào. Không bận vướng những thứ lỉnh kỉnh làm nặng bước đi hoặc làm chùn bước tới, người Tông đồ học sống tinh thần phó thác để chỉ biết đợi chờ tất cả nơi một mình Thiên Chúa.

Xem ra chẳng có gì. Mà thực ra lại có tất cả. Bởi hành trang đích thực của họ chính là Chúa, Đấng đã nên sản nghiệp cho những kẻ được sai đi 2.

Hành trang ấy còn có ý nghĩa đặc biệt nữa. Đó là các môn đệ được tham dự vào ba chức năng tư tế, tiên tri và vương đế của Chúa Giêsu. Cây gậy của vương đế, đôi dép của tiên tri, và tấm áo của tư tế.

– Cây gậy

Cây gậy trong tay biểu trưng cho sức mạnh của Thiên Chúa thông ban cho người thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Ra đi với niềm tin vào năng quyền của Thiên Chúa trao ban: công bố Tin mừng cứu độ của Đức Kitô, chữa lành và thánh hoá nhằm cải thiện đời sống, xua trừ ma quỷ hầu chế ngự và đẩy lui các thế lực sự dữ.

– Đôi dép

Đôi dép là hình ảnh luôn lên đường. Truyền giáo là ra đi. Đi để mang sứ điệp Tin mừng đến với muôn dân. Sứ vụ sai đi khởi phát từ Chúa Cha “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”.

 Tấm áo

Người ra đi mang áo là mặc lấy tâm tình Chúa Giêsu. Nhờ đó, các môn đệ làm cho cuộc đời mình trở nên của lễ hiến dâng hợp với hiến lễ Chúa Kitô.

Chúa Giêsu còn trao cho các môn đệ những quyền năng của Ngài: quyền rao giảng, quyền chữa bệnh, quyền trừ quỷ.

Với những hành trang như thế, Chúa Giêsu muốn tỏ cho thấy sự thành công trong hoạt động Tông đồ không do tài lực của con người nhưng là do quyền năng Thiên Chúa.

  1. Phương thức hoạt động Tông đồ

Sứ vụ loan báo Tin mừng không phải là việc của một cá nhân riêng lẻ, mà là việc của cộng đoàn, không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải liên đới và liên kết với nhiều người khác. Khi sai đi “từng hai người một”, Chúa Giêsu mong các môn đệ hợp tác và liên đới với nhau, khích lệ và bàn hỏi nhau khi gặp khó khăn “Hai người có giá trị hơn một, nếu họ ngã, người này đỡ người kia dậy” (Gv 4,9). Hai người làm việc chung, nâng đỡ nhau biểu lộ tình yêu thương nhau như một dấu chỉ đặc trưng của môn đệ của Chúa (x. Ga 13,35). Dấu chỉ này là một chứng từ sống động và lôi cuốn người khác.

Trong Công vụ Tông đồ, các nhà truyền giáo thường lên đường với nhau “từng hai người một”: Phêrô đi với Gioan (Cv 3,1; 4,13); Phaolô với Banabê (Cv 1 3,2); Giuđa và Sila (Cv 15,22)… Hoạt động Tông đồ luôn là tạo thành nhóm. Nếp sống huynh đệ là một bài giảng về tình yêu. Chứng tá về tính hiệp nhất khi gắn bó với Đấng đã sai mình, chứng tá về tình huynh đệ khi nhận ra mình được sai đi “từng hai người một”. Chứng tá Kitô hữu phải nhắm đến một hình thức cộng đoàn trong Giáo Hội. Cuộc sống yêu thương trong cộng đoàn vừa là dấu hiệu của người môn đệ Chúa Giêsu, vừa là lời rao giảng sống động, hùng hồn nhất về Tin Mừng.

Chúa Giêsu gọi các môn đệ và sai đi truyền giáo. Giáo hội tiếp nối sứ vụ được sai đi, đến với muôn dân. Ra đi là dấn thân đi đến gặp gỡ mọi người với tinh thần đơn sơ, từ bỏ và tự do, để loan báo tin vui và mang đến cho họ ơn cứu độ.

Như thế, Tông đồ là người lên đường chứ không phải xuống đường. Lên đường là một tinh thần nhạy cảm của Tin Mừng được thể hiện qua lối sống gắn bó với sứ vụ. Nhạy cảm với những thao thức của thời đại để tìm đổi mới tư duy, nâng cao tầm nhìn, nới rộng kiến thức, mong diễn đạt Tin Mừng sát với ngôn ngữ hiện tại. Nhạy cảm với nhu cầu của tha nhân bằng muôn ngàn cách thể hiện lòng nhân ái vốn là điểm sáng của giới luật yêu thương, đồng thời là dấu hiệu dễ nhận ra nhất của Tin Mừng cứu độ. Nhạy cảm với Giáo Hội để tìm hiệp nhất. Nhạy cảm với đồng nghiệp để tìm huynh đệ nâng đỡ cộng tác. Nhất là, nhạy cảm với Chúa để tìm thuộc về Ngài mỗi ngày một hơn. Và dọc dài sứ vụ, tư thế lên đường sẽ làm nên hình ảnh chứng nhân 3.

  1. Sứ vụ Tông đồ là sống chứng nhân

Trao “Sứ vụ” cho các môn đệ, Chúa Giêsu không bảo các ông “phải giảng điều gì”. Ngài chỉ căn dặn các ông những chi tiết “phải sống”. Đối với Chúa Giêsu, ra đi làm chứng tá bằng cuộc sống quan trọng hơn chứng tá bằng lời nói.

Trong Tông huấn “Loan báo Tin Mừng”, Đức Thánh Cha Phaolô VI quả quyết ít nhất hai lần rằng, phương thức thứ nhất để rao truyền Phúc Âm chính là làm chứng bằng một cuộc sống Kitô hữu đích thực (x. số 21 và 41).

Có ba cách làm chứng: nói, làm và sống. Hiệu năng nhất là cách thứ hai và thứ ba. Ai cũng biết nói thì dễ, làm khó hơn, và sống như mình nói lại càng khó hơn nữa. Chính việc làm và đời sống làm cho lời mình nói đáng tin hơn. Nhưng cả khi người ta chưa nói hay không thể nói, chưa làm hay không thể làm một số điều nào đó, thì người ta đã có thể sống điều mình xác tin và muốn chia sẻ.

Theo Đức Phaolô VI, làm chứng bằng cuộc sống, bằng hành động cụ thể là một cách rao giảng thầm lặng, không nghe được, nhưng thấy được và rất hữu hiệu, nhất là đối với con người thời nay vì hai lý do: một là vì thời nay (thời của khoa học thực nghiệm và của óc thực tiễn), người ta nhạy cảm với việc làm và dị ứng với lời nói và các học thuyết, hai là vì trong thế giới trần tục hoá ngày nay, như ở Việt Nam chẳng hạn, tôn giáo bị đẩy ra bên lề như chuyện riêng tư, thế nên không phải bất kỳ ở đâu và lúc nào người ta cũng có thể, hay nên trực tiếp rao giảng Tin Mừng. Năm 1937, Mahatma Gandhi, vị anh hùng dân tộc Ấn Độ nói với các nhà truyền giáo: “Hãy để cho đời sống các ngài nói với chúng tôi như đoá hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ đơn sơ để cho hương thơm của mình toả lan. Cả người mù không nhìn thấy hoa hồng vẫn nhận ra được mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của nhân dân của các ngài khi họ toả hương thơm đời sống. Đối với tôi, đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả những gì tôi muốn họ làm là sống đời Kitô hữu chứ không phải chú giải nó”.

Vậy để loan báo Tin Mừng thuyết phục, người Kitô hữu phải sống thế nào cho cuộc đời mình trở thành đáng tin. Đới sống đáng tin thì tự nhiên lời nói cũng đáng tin. Làm tông đồ, rao giảng Phúc Âm đặc biệt thích hợp cho ngày nay là làm cho đời sống Kitô hữu đáng tin. Như vậy toàn bộ cuộc sống ta đều phải “làm chứng”: lời ăn tiếng nói, cách cư xử, giao tiếp, trong gia đình, ngoài xã hội, khi làm việc, khi vui chơi giải trí… Đối với người có ý thức truyền giáo thì nhất nhất việc gì, khía cạnh nào của đời sống họ cũng có thể là lời loan báo. Lời trách nặng nề nhất của người chưa biết Chúa đối với tín hữu Công giáo có lẽ là: Người Công giáo các anh (các chị) không mấy đáng tin; các anh (các chị) nói một đường làm một nẻo. Đức tin, giáo lý nghe thì thật hay nhưng không thấy đem lại cho xã hội một cái gì thật sự tốt đẹp và mới mẻ. Lời phê bình đó có lẽ là quá đáng nhưng thiết tưởng ta chẳng cần cãi lý làm gì, hãy coi đó như một lời nhắc nhở để chúng ta nhìn lại cuộc sống “chứng tá” của mình. Xã hội này đang suy thoái trầm trọng về đạo đức: tham nhũng, thối nát, dối trá, bất công, xì ke ma túy, sa đoạ … Ta có còn là men, là muối, là ánh sáng nữa không?

  1. Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu,xin sai chúng con lên đường nhẹ nhàng và thanh thoát,không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào những phương tiện trần thế. Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm: rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ,chữa lành những người ốm đau. Xin cho chúng con biết nói Tin Mừng với niềm vui,như người tìm được viên ngọc…. quý,biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân. Xin ban cho chúng con khả năng đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa. Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ của bao người đau khổ thể xác tinh thần.

Lạy Chúa Giêsu,thế giới thật bao la mà vòng tay chúng con quá nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau mà tin tưởng lên đường, nhẹ nhàng và thanh thoát. Amen.(Mana).

____________________

1 “Comment lire un évangile?”, Seuil, trang 103.

2 “Với cả tâm tình”, trang 117-120, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống.

3 “Với cả tâm tình”, trang 121.

4 “Đạo trong đời”, trang 252-255, Lm Nguyễn Hồng Giáo.

Về mục lục

.

ĐIỀU KIỆN CẦN CỦA NGƯỜI THỪA SAI

Jos.Vinc. Ngọc Biển

Khi nói đến truyền giáo, Giáo Hội muốn chúng ta trở về căn gốc để hiểu và thấy được rằng: Đức Giêsu chính là nhà thừa sai đầu tiên được Chúa Cha sai xuống trần gian để loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân.

Khi đến trong thế giới con người, Đức Giêsu đã thi hành xuất sắc sứ vụ thừa sai mà Chúa Cha trao phó cho Ngài. Sứ vụ ấy không chỉ dừng lại nơi bản thân và cuộc đời của Đức Giêsu, nhưng nó được trao truyền cho những người tiếp bước. Khởi đi từ các Tông đồ, rồi đến các môn đệ và chúng ta, đồng thời sẽ còn được tiếp diễn mãi cho đến tận thế.

Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về vai trò, tinh thần, sứ mạng của người được sai cũng như những cách thức thực hiện sứ vụ thừa sai.

  1. Vai trò của nhà thừa sai

Bài đọc I cho chúng ta thấy vai trò thừa sai của tiên tri Isaia: ông loan báo cho dân về một giai đoạn tự do, không còn bị lệ thuộc trong thân phận nô lệ bên Babylon nữa. Bởi vì vua Ba Tư đã ký và cho phép dân Israel hồi hương, kết thúc giai đoạn lưu đày. Tuy nhiên, lòng dân vẫn chưa thấy bình an, nỗi lo vẫn còn đó…! Biết được sự trăn trở của dân, nên tiên tri Isaia đã trấn an họ bằng việc loan báo Chúa sẽ ban bình an và vinh quang cho Giêrusalem. Bổn phận của họ là kiên trì và tin tưởng vào Người để được no nê, sung sướng, bình an, được vỗ về, an ủi và nâng niu. Giống như người mẹ yêu thương con mình thế nào, Thiên Chúa cũng yêu thương dân của Người như vậy.

Sang Bài đọc II, Thánh Phaolô đã sống sứ vụ cốt lõi thừa sai của mình khi tập trung vào mầu nhiệm thập giá của Đức Kitô. 

Vì thế, ngài đã mạnh dạn tuyên bố niềm xác tín đó của mình khi nói: “Trong khi người Dothái đòi dấu lạ, và người Hylạp tìm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô đã bị đóng đinh vào thập giá, cớ vấp phạm cho người Dothái, sự điên rồ đối với người dân ngoại (Hylạp)” (1 Cr 1,22-23).

Không chỉ nói, mà cả cuộc đời của ngài diễn tả niềm vui vì được kết hợp với Đức Giêsu chịu đóng đinh: “Đối với tôi, không một vinh quang nào khác ngoài vinh quang thập giá Đức Kitô”.

Như vậy, vai trò thừa sai của thánh Phaolô chính là gắn bó mật thiết nơi mầu nhiệm thập giá Đức Kitô. 

  1. Tinh thần của nhà thừa sai

Sang bài Tin Mừng, sau khi đã gợi hứng cho các môn đệ về sứ vụ thừa sai qua hình ảnh cánh đồng lúa chín vàng, Đức Giêsu bắt đầu sai họ ra đi để thu hoạch.

Trước tiên, Ngài sai “từng hai người một” ra đi loan báo Tin Mừng. Khi sai các môn đệ đi từng hai người như thế, Đức Giêsu muốn cho các ông hiểu rằng: khi loan báo về Nước Trời, điều quan trọng là tính hiệp thông, hiệp nhất để cùng nhau sống và làm chứng cho sự thật.

Thứ đến, Đức Giêsu tiên báo cho các môn đệ thấy trước những khó khăn thử thách, những rào cản trên cuộc hành trình ấy: “Thầy sai các con đi như chiên con đi giữa bầy sói” (Lc 10,3). Ngài nói trước những khó khăn như vậy để cho các ông thấy rằng, trong khi loan báo về Nước Trời, không thiếu những kẻ không muốn vào mà lại còn tìm cách ngăn cản không cho những người khác vào. Cuộc sống và hành trình này không phải lúc nào cũng xuôi trèo mát mái, mà luôn gặp phải những bão táp cuồng phong.

Tiếp theo, tinh thần siêu thoát, nhẹ nhàng là hành trang của người môn đệ. Đức Giêsu không chấp nhận nhà thừa sai mang những thứ cồng kềnh. Bởi vì những thứ đó sẽ làm cho người thi hành sứ vụ sinh ra nặng nề và đôi khi bỏ cuộc chỉ vì những chuyện phụ thuộc như “củ hành, củ tỏi”.  Vì thế, Ngài nói:“Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép…”.  Người môn đệ phải sống nghèo thực sự. Có sống nghèo, các ngài mới có sự cảm thông, liên đới và chấp nhận tất cả vì sứ mạng. 

Hơn nữa, loan báo về Nước Trời là một sự cần kíp, cấp bách đến độ phải ưu tiên hàng đầu. Vì thế, Đức Giêsu căn dặn các ông rằng: “Đừng chào hỏi ai dọc đường”.Lý do, đây là mệnh lệnh khẩn trương, đòi hỏi người môn đệ phải nhanh nhẹn. Bởi vì, khi loan báo Tin Mừng, không được quan tâm đến những chuyện bên lề quá nhiều để rồi quên đi việc chính yếu.

Cuối cùng, là tinh thần kiên nhẫn. Phải chăng chính Đức Giêsu đã cảm nghiệm sâu sắc khi người dân quê của Ngài nhận định về mình: “Ông ấy chẳng phải là con bà Maria hay sao, cha ông ta lại không phải là bác thợ mộc…?” Rồi biết bao chống đối, ngờ vực, không tin, bị bắt bớ, đánh đòn… Nhân đây, Đức Giêsu muốn dạy cho các ông phải có tinh thần kiên trì, chịu đựng, không được nóng vội. 

Như vậy, qua bài Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Giêsu đã truyền lại cho các môn đệ tinh thần thừa sai của chính Ngài, để các ông ra đi thi hành sứ vụ theo Thiên Ý chứ không phải theo cách thế phàm trần.

  1. Sứ mạng thừa sai của mỗi chúng ta

Khi sai 72 môn đệ đi loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu muốn cho mỗi người chúng ta được tham dự vào sứ mạng ngôn sứ phổ quát của Ngài. Sứ mạng ấy được khởi đi từ lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Từ đó, chúng ta xác định căn tính truyền giáo thuộc về chúng ta. Bao lâu chúng ta không truyền giáo, thì bấy lâu ta đánh mất bản chất của mình. Bởi vì: “Khốn thân tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng” (1 Cr 9,16). Nỗi lòng thao thức của Đức Giêsu: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít…” phải là lời chất vấn lương tâm mỗi chúng ta.

Là Kitô hữu, chúng ta cùng đồng lòng và cảm nghiệm với Đức Giêsu trước những cánh đồng bao la đang độ chín vàng… Tham gia vào sứ mạng truyền giáo là chúng ta đang đóng góp cho Giáo Hội những viên gạch, hạt cát để xây nên tòa nhà Giáo Hội, nơi đó là niềm vui, hạnh phúc và bình an.  

Thiết nghĩ, trong cuộc sống của con người thời nay, niềm tin đang bị đánh cắp hay bị đặt sai chỗ bởi những chủ thuyết tương đối, dẫn đến tình trạng bình thường hoá mọi mặt, kể cả những giá trị đạo đức, những chân lý đức tin. Đứng trước thực trạng trên, chúng ta có bổn phận phải thực thi sứ vụ thừa sai của mình về Chúa cho anh chị em chúng ta.

Sứ vụ ấy được khởi đi từ trong gia đình: chồng làm chứng cho vợ, vợ làm chứng cho chồng, vợ chồng sống chung thủy. Cha mẹ nêu gương sáng cho con cái. Con cái hiếu nghĩa với cha mẹ. Bạn bè sống tốt với nhau trong môi trường, công ty, xí nghiệp. Hàng xóm láng giềng ăn ở hài hoà, sẵn sàng giúp đỡ nhau những lúc cần kíp…

Khi sống đời chứng tá bằng những giá trị Tin Mừng như thế, chúng ta sẽ gặp không ít những khó khăn, thử thách trong đời sống. Không thiếu gì những cám dỗ làm cho muối ra nhạt, ánh sáng bị lu mờ. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn luôn nhớ mình thuộc về Đức Kitô, có tránh nhiệm mang Ánh Sáng ấy soi sáng thiên hạ. 

Lạy Chúa Giêsu, còn biết bao nhiêu người chưa nhận biết Chúa, nhiều chiên lạc chưa được đưa về ràn. Xin Chúa ban cho mỗi người chúng con trở nên những thừa sai đích thực, luôn sẵn sàng, hăng say loan báo Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Chúa. Ước gì mọi người con của Chúa trên trần gian này đều được quy tụ thành một ràn chiên duy nhất, dưới sự lãnh đạo của Vị Mục Tử Tối Cao là chính Chúa. Amen. 

Về mục lục

.

HÃNH DIỆN VÌ THẬP GIÁ ĐỨC GIÊSU KITÔ

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Sứ mạng của ki-tô hữu hôm nay là rao giảng Đức Yêsu bị đóng đinh thập giá đã phục sinh, Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Khi nhận biết Đức Yêsu là Thiên Chúa nhập thể, người ta sẽ biết được Thiên Chúa yêu thương con người đến độ nào! Thập giá trở thành biểu tượng của Đấng chịu đóng đinh, và rao giảng về thập giá là rao giảng về tình yêu nhập thể.

Khám phá kho tàng qua thập giá Đức Yêsu

Một đời vất vả lam lũ rao giảng Tin Mừng, công trạng của Phaolô rất to lớn, nhưng Phaolô nói: “ước gì tôi không hãnh diện về điều gì khác ngoài thập giá Đức Yêsu, Chúa tôi”. Với người đánh giá mọi sự theo giá trị phàm trần, thập giá chỉ là một cây gỗ, có gì mà hãnh diện? Cái chết ô nhục trần trụi trên thập giá, có gì đáng tự hào? Phaolô hãnh diện vì thập giá, không phải vì đó là một cây gỗ, nhưng Ngài hãnh diện vì Con Người đã chết trên thập giá, Đức Yêsu- Đấng yêu thương con người đến chấp nhận cái “chết treo thập giá trần trụi ô nhục”.

“Đức Yêsu chết treo thập giá”, dạy Phaolô và con người của mọi thời đại rất nhiều bài học. Ai sống trên đời mà không ham sống lâu, không ham giầu sang, không ham được trọng vọng? Có nhiều người khi bị nghèo, không được trọng vọng, không quyền cao chức trọng, thì than thân trách phận, làm như thể cuộc đời họ không còn ý nghĩa gì nữa. Cái hiểu biết sai lầm này, làm chính đương sự không hạnh phúc, và cũng làm những người thân cũng như những người sống với họ, bị ảnh hưởng. Có biết bao gia đình tan hoang vì một trong hai vợ chồng đã có quan niệm sai lạc như vậy.

Hãnh diện vì thập giá Đức Yêsu, là hãnh diện vì mình chỉ là người trần nhưng được Thiên Chúa yêu thương vô cùng, vì Thiên Chúa nhập thể đã yêu con người đến chết trên thập giá. Con người đối với Thiên Chúa thật đáng quý biết bao. Nếu chính Thiên Chúa còn quý trọng con người đến độ chết cho con người, nghĩa là con người có giá trị thực sự trước Thiên Chúa, thì con người cũng phải biết yêu thương kính trọng nhau. Thập giá Đức Yêsu, là bằng chứng cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Hãnh diện vì thập giá, là hãnh diện vì mình được yêu, là hãnh diện vì mình nhận thức được chân lý, biết được giá trị đích thực của cuộc đời.

Rao giảng Nước Thiên Chúa trong mọi tình huống

Đức Yêsu đã sai gởi không chỉ nhóm 12, nhưng Ngài còn sai 72 môn đệ đi rao giảng về Nước Thiên Chúa nữa. Sứ điệp rao giảng là “Nước Thiên Chúa đến gần”. Qua cái chết và sống lại của Đức Yêsu, “nước Thiên Chúa” đã đến và đang đến.

Đâu là cách hành xử của người ra đi rao giảng Tin Mừng? Không mang theo túi tiền, không bị, không giày dép; không chào hỏi ai dọc đường! Người rao giảng Tin Mừng, chẳng có gì đáng giá ngoại trừ chính sứ điệp rao giảng. Người rao giảng Tin Mừng, chỉ lo lắng sao cho Tin Mừng được loan báo, và không bận tâm về những điều không cần thiết như lương thực, quần áo, giầy dép. Những việc chào hỏi dọc đường có thể làm người có sứ mạng quên mất công việc chính yếu của họ. Việc rao giảng Tin Mừng, quan trọng và khẩn thiết hơn tất cả những việc xã giao, chào hỏi. Những gì ngăn trở cho việc rao giảng, phải được bỏ đi.

Với những người được rao giảng, phải như thế nào? Với những người tiếp đón các ngài, các ngài chúc bình an và loan báo cho họ biết “Nước Thiên Chúa đến gần”; với những người không tiếp đón các ngài, các ngài giũ cả bụi chân lại nhưng vẫn loan báo “Nước Thiên Chúa đã đến gần”. Môn đệ của Đức Yêsu rao giảng tin mừng Nước Trời trong mọi trường hợp, lúc thuận lợi cũng như những lúc bất thuận lợi, lúc được đón nhận cũng như lúc bị từ chối.

“Nếu ở đó có ai đáng hưởng bình an…”. Bình an hệ tại thái độ nội tâm của con người, tuỳ thuộc thái độ của người đó có sẵn sàng đón nhận Tin Mừng của Thiên Chúa hay không. Phaolô và các tông đồ, khi đi rao giảng các Ngài bị bắt bớ tra tấn, nhưng các Ngài vẫn có sự bình an đích thực. Sự bình an mà Đức Yêsu hứa ban cho các môn đệ của Ngài, và thế gian không thể cướp đi được. Những yếu tố bên ngoài, ảnh hưởng đến con người, nhưng không thể làm một người “theo Chúa” mất bình an.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

  1. Khi nói về thập giá, điều gì gợi lên trong đầu bạn? Nói thật với lòng mình, bạn thấy “thập giá” có ích lợi gì không?
  2. Bình an là gì? Theo bạn, đâu là điều kiện để có bình an thực sự?
  3. Một ki-tô hữu có được trao sứ mạng rao giảng Tin Mừng không? Cung cách hành xử cho những người được sai đi loan báo tin mừng “Nước Thiên Chúa”, có áp dụng đối với các ki-tô hữu không? Tại sao?

Về mục lục

.

CON CHIÊN GIỮA SÓI RỪNG

Trần Bình An

Trong cuốn Through the Valley of the Kwai River (Ngang Qua Thung Lũng Sông Kwai), tác giả Ernest Gordon thuật lại một câu chuyện có thật, xảy ra tại một trại tù binh Nhật dọc bờ sông Kwai trong thế chiến II. Nhiều người trong chúng ta đã nghe nói về trại này trong cuốn phim Bridge Over the River Kwai (Cầu Sông Kwai). Nơi đây 12 ngàn tù binh đã chết vì bệnh tật và bị đối xử tàn tệ khi họ phải xây một tuyến đường xe lửa.

Đàn ông bị cưỡng bức lao động dưới cái nóng đôi khi lên đến 120 độ F (khoảng 49 độ C). Đầu trần, chân đất, họ vác từng thúng đá trên vai để xây cho xong toàn bộ tuyến đường. Họ chỉ mặc mỗi manh áo rách và nằm ngủ trên mặt đất không chăn chiếu.

Nhưng kẻ thù khủng khiếp nhất đối với họ không phải là lính Nhật hay cuộc sống gian khổ mà lại là chính họ. Theo lời kể của Gordon, vì quá sợ lính Nhật, nên các tù binh đã bị mắc chứng hoang tưởng. Họ lấy luật rừng cư xử với nhau. Họ trộm cắp của nhau, nghi ngờ nhau và chỉ điểm lẫn nhau. Bọn canh gác cười nhạo khi thấy những người lính da trắng từng kiêu hãnh biết bao giờ đây đang tiêu diệt lẫn nhau.

Thế rồi một điều khó tin đã xảy ra. Hai tù nhân nọ chia nhóm học hỏi Kinh Thánh cho các tù nhân khác. Qua việc học hỏi này, dần dà các tù nhân khám phá ra Chúa Giêsu là một người đang sống giữa họ.

Hơn nữa, họ còn khám phá được rằng Chúa Giêsu hiểu rõ hoàn cảnh của ho. Người cũng không có chỗ gối đầu vào bên đêm. Người cũng đói khát, trơ trụi. Người cũng bị phản bội, cũng nếm roi đòn trên lưng. Tất cả những gì về Chúa Giêsu–Người là gì, Người nói gì, Người làm gì–bắt đầu có ý nghĩa và trở nên sống động. Các tù nhân không còn cho rằng họ là nạn nhân của một tấn bi kịch độc ác nào đó. Họ không còn chỉ điểm. Họ không còn tiêu diệt lẫn nhau nữa. Sự thay đổi tâm hồn của họ được tỏ lộ không đâu rõ rệt cho bằng trong lời cầu nguyện.

 Họ bắt đầu cầu nguyện cho nhau nhiều hơn cho chính mình. Và nếu có cầu xin cho chính họ, thì họ chẳng xin cho được điều gì. Mà xin cho sức mạnh mới mẻ trong tâm hồn của họ được bộc lộ. Dần dà, cả trại đã được biến đổi, đến nỗi không phải chỉ đám lính Nhật mà cả các tù binh cũng phải ngạc nhiên. Một đêm nọ, sau khi gặp gỡ với nhóm học hỏi Kinh Thánh xong, Gordon khập khiễng bước về trại của mình. Đang lúc lần mò trong bóng đêm, ông bỗng nghe có tiếng nhiều người ca hát, có người dùng mảnh gỗ để gõ nhịp vào lon thiếc. Tiếng ca hát và tiếng gõ nhịp làm cho bóng đêm trở nên sống động. (Lm Mark Link, S.J. Sự biến đổi kỳ diệu)

Giữa địa ngục trần gian đoạ đầy, các tù nhân đã hạnh phúc tìm được sự bình an của Chúa qua Kinh Thánh, Lời Chúa và hồng ân Lòng Thương Xót. “Thầy để lại bình an cho các con; chính bình an của Thầy mà Thầy ban cho các con”(Ga 14, 27).  Trong Tin Mừng Chúa nhật hôm nay, thánh sử Luca thuật lại Đức Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, với hành trang bất khả ly thân là cầu nguyện, chiến đấu, phó thác và bình an.

Cầu nguyện 

“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người.” Hành trang quan trọng, thiết thực và và thiết yếu nhất của Tông đồ chính là cầu nguyện, để có thể can đảm, vững bền, mạnh mẽ chiến đấu với sự dữ, những thách đố, những gian truân trên đường rao giảng Tin Mừng. Vì cầu nguyện kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, nguồn mạch dồi dào sức sống.

Không cầu nguyện, không chạy đến Thiên Chúa phù trợ, mà kiêu căng, tự đắc, tự phụ, cậy vào sức mình, thì không sớm thì chầy sứ vụ rao giảng sẽ hoàn toàn thất bại trước các mưu ma chước quỷ.  “Ai ở trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.”(Ga 15, 5)

Chiến đấu 

Đức Giêsu phán cùng các môn đệ: “Các con hãy đi. Này Ta sai các con như con chiên ở giữa sói rừng.”Người không che giấu những khó khăn, thách thức, nguy hiểm đang rình rập, đón chờ, để các ông không bị bất ngờ, cần thấu đáo tình thế ngặt nghèo, đau khổ, trước khi quyết định thực hiện sứ vụ, như Người đã từng trải.

Cả cuộc đời Người đã liên tục chiến đấu với bản năng, với ham muốn, dục vọng, với cám dỗ háo danh, từ trước khi đi rao giảng, cho đến tận trên thập giá. Người chịu đói khát trong hoang mạc, chịu các tư tế, luật sĩ, Biệt phái hăm doạ, khước từ, xua đuổi, chịu khổ nạn và cuối cùng chịu chết nhục nhã trên núi Sọ, vâng theo Thánh Ý Thiên Chúa Cha, để cứu chuộc nhân loại khỏi sự chết.

Tiếp bước theo Người đi rao giảng, thánh Phaolô cũng phải miệt mài chiến đấu không ngừng. “Chính vì mục đích rao giảng ấy, mà tôi phải chiến đấu, nhờ sức lực của Người hoạt động mạnh mẽ trong tôi.” (Cl 1, 29)

Phó thác 

Ngoài cầu nguyện, chiến đấu, hành trang khác không phải tiền bạc, áo quần, vật dụng cá nhân, mà chính là lòng phó thác vào Chúa Quan Phòng. Đức Giêsu luôn kêu gọi ai muốn theo Người, hãy từ bỏ mình, trở nên khiêm hạ, từ tốn, nhẫn nại, thầm lặng. Không dựa vào bản thân với tài năng, trí lực, sức lực, năng lực để hoạt động, không kiêu căng, hãnh tiến, cũng chẳng tự cao tự đại khi dấn thân rao giảng, mà chỉ hoàn toàn phó thác, trông cậy vào Chúa mà thôi. “Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép, và đừng chào hỏi ai dọc đường.” Luôn tận tâm tận lực, luôn ưu tiên cho sứ vụ, bỏ qua những lề lối nghi thức rườm rà, phức tạp, làm chậm trễ hay vướng víu trên đường hành đạo. 

Thánh Phaolô cũng đã xác nhận lại mục đích Đi Gieo không phải tìm kiếm tiền của, mà nhiệm vụ là tìm đưa các chiên về một đàn duy nhất. “Tôi sẽ không phiền luỵ anh em đâu, bởi vì điều tôi tìm kiếm không phải là của cải của anh em, mà là chính anh em.” (2Cr 12, 14)

Bình an 

Người Tông đồ có một món quà tuyệt hảo đễ trao tặng cho tha nhân chính là bình an. “Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: ‘Bình an cho nhà này.” Thắm thiết giao hoà với Thiên Chúa, yêu thương tha nhân và sống hài hoà với vạn vật, người Tông đồ mới được Chúa thương ban bình an, từ nội tâm ra đến bên ngoài.

Bởi vì bình an là một thuộc tính nổi bật của Nước Trời. “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. Ai phục vụ Đức Kitô như thế, thì đẹp lòng Thiên Chúa và được người ta quý trọng. Vậy chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại bình an và những gì xây dựng cho nhau. (Rm 14, 17-19)

Yêu mến Chúa chính là từ bỏ sự dữ, tội lỗi, từ bỏ mình, khước từ thế gian, chân thành đón nhận Chúa làm gia nghiệp cuộc đời, đồng thời kết hiệp mật thiết với Chúa trong bình an thanh thoát. “Thiên Chúa là tình yêu. Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy.” (1Ga 4, 16) Đồng thời “Thiên Chúa là nguồn bình an.”( Rm 16, 20).

Để long trọng tiếp đón Chúa, người Tông đồ luôn dấn thân vác thập giá theo chân Người. Đó là chứng tích hùng hồn và vẻ vang của người Kitô hữu. “Tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Ðức Giêsu Kitô.” (Gl 6, 14)

“Thứ nhất cầu nguyện, thứ hai hy sinh, thứ ba mới đến hoạt động.” (Đường Hy Vọng, số 119)

Lạy Chúa Giêsu, xin thức tỉnh chúng con thoát khỏi chính bản thân nặng nề, tham, sân, si, khỏi cám dỗ thiên la địa võng, khỏi thế gian hào nhoáng ảo ảnh, để chúng con được tự do đi theo Chúa đi gieo Tin Mừng, chỉ mang theo hành trang cầu nguyện, chiến đấu, phó thác và bình an mà thôi.

Khấn xin Mẹ cầu bầu, cứu giúp chúng con khỏi mọi sự ngăn cản chúng con đi theo Chúa, thành tâm noi gương Mẹ suốt đời đồng hành với Con Mẹ. Amen.

Về mục lục

.

CẦU NGUYỆN CHO VIỆC TRUYỀN GIÁO

Lm. Anthony Trung Thành

Chúa Giêsu là sứ giả Tin mừng đầu tiên. Ngài nhận lãnh sứ mạng đó từ Thiên Chúa Cha. Để tiếp tục công việc của mình, Ngài đã chọn nhóm Mười Hai mà chúng ta gọi là Tông đồ. Sau đó, Ngài còn gọi thêm 72 môn đệ như Tin mừng hôm nay kể lại. Ngoài ra, trong cuộc hành trình truyền giáo, còn có rất nhiều người đi theo để giúp Chúa và các Tông đồ, họ đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Kitô và các môn đệ (x. Lc 8,2-3).

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã nói: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Đó là mệnh lệnh, không ai được miễn trừ. Nhưng đã có một thời người ta quan niệm rằng, truyền giáo là công việc của Đức Giáo Hoàng, các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ…Đó là một quan niệm hết sức sai lầm. Truyền giáo là bổn phận không chỉ của Đức Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh mục, Tu sĩ mà còn là bổn phận của tất cả mọi người giáo dân. Nghĩa là bổn phận của tất cả những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Vì thế, tuỳ địa vị, tuỳ khả năng, tuỳ hoàn cảnh…Các kitô hữu cần phải ra sức chu toàn lệnh truyền này của Chúa Giêsu. Nếu ai lơ là, hay khinh dễ mà không chu toàn thì phạm tội thiếu sót. Thánh Phaolô đã từng nói: “Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Vô phúc cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng!”(1Cr 9,16).

Tâm tình của Thánh Phaolô cũng phải là tâm tình của mỗi người chúng ta hôm nay. Nhưng phải truyền giáo bằng cách nào? Chúng ta có thể truyền giáo bằng nhiều cách khác nhau: bằng việc rao giảng, bằng việc thăm viếng, bằng chứng tá đời sống…Nhưng trước hết và trên hết, chúng ta phải cầu nguyện cho công việc truyền giáo. Đây là việc quan trọng hàng đầu. Vì khi nhìn thấy đồng lúa chín bao la mà thiếu thợ gặt, Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ cầu nguyện: “Anh em hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến” (Lc 10, 2). Lệnh truyền này nằm trong bối cảnh Chúa Giêsu đang huấn luyện cho các thợ gặt đầu tiên. Lúc đó, số lượng thợ gặt được Chúa huấn luyện rất ít ỏi: Mười Hai Tông đồ; Bảy Mươi Hai Môn đệ và một số cộng tác viên khác.

Còn hiện nay thì sao? Theo niên giám toà thánh năm 2013: Giáo hội Công giáo có trên 1.253.000.000 tín hữu; 5.173 giám mục; 415.348 linh mục; 55.253 nam tu sĩ; 693.575 nữ tu; 118.251 chủng sinh. Như vậy, đã gần 2000 năm qua, cánh đồng truyền giáo vẫn đang còn bát ngát mênh mông, vẫn đang còn thiếu nhiều thợ gặt. Người Công giáo mới chiếm koảng 17.7% dân số thế giới. Vì vậy, lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Anh em hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến” (Lc 10, 2) vẫn đang còn mang tính cấp bách và thời sự. Cho nên, chúng ta cần phải tiếp tục cầu nguyện cho việc truyền giáo.

Thứ nhất, cầu nguyện cho có nhiều thợ gặt: thợ gặt ở đây có thể là Giám mục, Linh muc, Tu sĩ và cũng có thể là người giáo dân, tức là những người dám xã thân trong công việc loan báo Tin mừng. Đó là những: “Trái tim quảng đại biết cảm thương những cảnh đời bơ vơ không người chăn dắt, những tâm hồn thiện chí hăng hái dấn thân ra đi loan báo Tin mừng”(Thư chung HĐGMVN 2003, số 10). Đó là những bạn trẻ tự nguyện hiến thân mình trong ơn gọi tu sĩ và linh mục để phụng sự Chúa và phục vụ Giáo hội.

Thứ hai, cầu nguyện cho những “nhà truyền giáo” để họ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc loan báo Tin mừng. Đặc biệt là những người đang có sứ mệnh loan báo Tin mừng tại các vùng sâu vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số, tại các nước mà đạo Chúa đang bị cấm cách và bách hại…Họ cần sự trợ giúp không chỉ bằng vật chất mà còn cần sự nâng đỡ của chúng ta trong lời cầu nguyện. 

Thứ ba, cầu nguyện cho những người kitô hữu luôn sống xứng đáng với danh nghĩa của mình. Số tín hữu của Giáo Hội Công giáo hiện nay trên thế giới là 1.253.000.000 người. Số tín hữu Công giáo Việt Nam có trên 6.606.495 người. Giáo xứ chúng ta có 8.600 người. Nhưng thử hỏi trong số đó, được bao nhiêu người là kitô hữu đúng nghĩa? Thực tế cho chúng ta thấy, vẫn còn nhiều người mang danh kitô hữu nhưng không sống giáo lý của Đức Kitô, không giữ luật Chúa và Giáo hội, không đi lễ và lãnh nhận các Bí tích, vẫn rối vợ rối chồng, vẫn buôn gian bán lận, vẫn lỗi đức công bằng bác ái yêu thương, vẫn hằn thù ghen ghét, chém giết lẫn nhau…Vì thế, mọi kitô hữu phải biết cầu nguyện cho nhau để trở  thành những kitô hữu đích thực.

Thứ tư, cầu nguyện cho những người không phải là kitô hữu: có thể họ là những người làng xóm láng giềng, đang ở bên cạnh chúng ta; có thể họ là bạn bè của chúng ta; có thể họ là những người chúng ta gặp gỡ tiếp xúc hằng ngày; có thể họ là những người theo các đạo khác: Phật giáo, Khổng giáo, Hoà hảo…Thậm chí họ là những người vô thần, những người chúng ta không quen biết; có thể họ là những người đã biết về đạo, biết về giáo lý của Đức Kitô, nhưng họ không trở lại đạo vì một gương xấu gương mù nào đó của người công giáo hoặc họ chưa có cơ hội để gia nhập đạo Chúa.

Chúng ta hãy cầu nguyện cho họ, để họ có cơ hội trở thành người kitô hữu, là con cái của Chúa.

Thứ năm, cầu nguyện đặc biệt cho những người tội lỗi: có thể họ là thành viên trong gia đình, hội đoàn, giáo xứ, Giáo hội. Có thể họ là người chồng, người cha, người mẹ, người vợ, con cái…Chúng ta hãy cầu nguyện để họ biết ăn năn thống hối tội lỗi của mình mà trở về với Chúa. Vì cầu nguyện có sức biến đổi người tội lỗi trở thành thánh nhân. Thánh Augustinô đã được ơn trở lại nhờ lời cầu nguyện của Thánh Mônca. Tử tội Pranzini đã tỏ dấu ăn năn trước khi lên đoạn đầu đài nhờ lời cầu nguyện của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu.

Thứ sáu, cầu nguyện cho chính chúng ta biết siêng năng cầu nguyện: cầu nguyện chung; cầu nguyện riêng; cầu nguyện trong gia đình; cầu nguyện ở nhà thờ; cầu nguyện mọi nơi mọi lúc nhất là khi thi hành công việc loan báo Tin mừng. Chính Mẹ Têrêxa đã cho biết, bí quyết thành công trong công việc của mẹ là cầu nguyện. Cầu nguyện như việc nạp bình, hoạt động là việc thắp sáng.

Lạy Chúa là Cha đầy tình yêu thương, để tiếp tục sứ mạng truyền giáo mà Con Cha giao phó, xin Cha sai đến cánh đồng truyền giáo thêm nhiều thợ gặt lành nghề. Xin cho mỗi người chúng con nhiệt tâm hơn trong việc loan báo Tin mừng. Đặc biệt, xin cho chúng con luôn siêng năng cầu nguyện và cầu nguyện nhiều cho công cuộc truyền giáo. Amen.

Về mục lục

.

BÌNH AN, HÀNH TRANG CỦA NGƯỜI TRUYỀN GIÁO

Dã Quỳ 

Sống giữa thế giới đầy bất an, con người ý thức sự bình an cần thiết và là nhu cầu sống còn. Vì vậy, người ta đã đi tìm bình an trong nhiều phương thế khác nhau. Thánh Luca tường thuật Chúa Giêsu đã sai các môn đệ ra đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Người đã dặn dò môn đệ đừng mang nhiều thứ. Thế nhưng, có một thứ mà người môn đệ cần và phải có, đó là sự Bình An. Sứ mệnh loan báo Tin Mừng Bình An không là quyền của một cá nhân, nhưng là trách nhiệm của tất cả chúng ta, những Kitô hữu theo Chúa. Như đã sai các môn đệ, hôm nay Chúa cũng vẫn tiếp tục sai chúng ta đi vào cánh đồng lúa mênh mông mà rất ít thợ gặt. Vậy chúng ta cần phải làm gì?

 

Hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.” Chúa Giêsu thấy cánh đồng truyền giáo rộng lớn trải dài đến tận cùng trái đất. Chúa cũng thấy tình trạng thiếu sứ giả Tin Mừng sẵn sàng ra đi. Thế nên Chúa đã nhắn nhủ môn đệ ” Hãy xin chủ mùa gặt.” Vì biết rằng chính Thiên Chúa là chủ mùa gặt. Cầu xin Thiên Chúa ban cho có nhiều thợ, bởi ơn gọi truyền giáo là một ân huệ, là món quà của Thiên Chúa. Chính thánh Phaolô đã khẳng định về ơn này “Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa.“(1Cr 15,10) Nhờ ơn Chúa mà người Kitô hữu được chọn gọi, được sai đi loan báo Tin Mừng và tất cả những gì chúng ta làm được cũng là nhờ ơn Chúa. Vì thế, việc đầu tiên ta cần làm đó là cầu nguyện cho có nhiều ơn gọi và ta cũng sẵn sàng đáp lại lời Chúa mời gọi để ra đi.

 

Anh em hãy ra đi, này Thầy sai anh em đi  như chiên con vào giữa bầy sói.” Chúa Giêsu không chỉ sai các tông đồ ra đi,  nhưng Người còn sai tất cả các môn đệ đi loan báo Tin Mừng. Việc rao giảng Tin Mừng là việc của cả Giáo Hội và cần được liên kết với nhau.  Chúa biết môi trường trần gian như hang sói rừng, nhưng Chúa lại muốn chúng ta- những sứ giả Tin Mừng sống “bất bạo động”. Chúng ta được Chúa sai đi là chiên ở giữa bầy sói nhưng lại “không phòng thủ”. Vì sứ mệnh của người truyền giáo là công bố Nước Thiên Chúa ngang qua chính đời sống. Sức mạnh của chúng ta ở nơi Thiên Chúa. Chúng ta tự do ra đi mà không sợ hãi vì luôn có Chúa Giêsu ở cùng. Người bước đi cùng ta trên mọi nẻo đường, sẻ chia với ta bao nỗi sướng vui, sầu khổ của sứ vụ. Vì vậy Chúa muốn chúng ta nhẹ nhàng trong hành trình.
 

Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép...” để ta thanh thoát chỉ một lòng lo loan báo Tin Mừng. Với chỉ thị này, Chúa muốn người môn đệ truyền giáo sống nghèo, không cậy dựa vào những phương tiện của con người, không gắn bó với giá trị trần thế. Vì mục đích cuối cùng của chúng ta không ở trên mặt đất này, vậy tại sao ta lại bận tâm đến sự bảo đảm của trần gian? Dẫu biết rằng ta cần phương tiện, nhưng có bao nhiêu phương tiện thì chúng ta cho là đủ? Phương tiện vật chất chỉ có giá trị tương đối. Chính vì vậy, chúng ta hãy phó thác vào quyền năng và ân sủng vô biên của Chúa, Người sẽ trợ giúp ta để việc truyền giáo thực sự mang đến Tin Mừng bình an cho muôn dân.

 

” Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình an cho nhà này!” Loan báo Tin Mừng là đem bình an đến cho mọi người. Người môn đệ truyền giáo phải mang trong mình sự bình an của Chúa. Vì người có bình an nội tâm thì sẽ hiền lành và lan tỏa bình an đến người khác. Sự bình an tỏa ra trong thái độ sống chan hòa với những người chung quanh, bằng cuộc sống bác ái, yêu thương, phục vụ để làm chứng rằng “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.” Như lời của Mahatma Gandhi, vị lãnh tụ Ấn Độ đã nói với các nhà truyền giáo: “Hãy để cho đời sống của các ngài nói với chúng tôi như đóa hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ cần đơn sơ để cho hương thơm lan tỏa. Cả người mù không xem thấy hoa hồng, vẫn nhận ra mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của người Kitô hữu khi họ tỏa hương thơm đời sống.” Vậy sự bình an và tình yêu  của chúng ta phải được lãnh nhận từ Chúa Giêsu qua đời sống cầu nguyện. Tương quan giữa ta và Chúa thân mật, tốt đẹp, ta cũng sẽ xử sự tốt với anh em, làm những điều tốt, an ủi, chữa lành và đem bình an thực sự đến cho anh chị em ta.

 

” Hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.” Giá trị của người môn đệ và mỗi Kitô hữu chúng ta không phải do việc nọ việc kia ta làm, nhưng là ta được thuộc về Chúa và được ghi danh vào Nước Trời. Đó là giá trị vĩnh cửu khiến chúng ta không làm gì để vinh danh cá nhân mình, nhưng là tất cả cho vinh danh Chúa. Dẫu rằng ta có thể vui về những thành công, nhưng trước hết hãy làm để vui lòng Chúa, vì ta chỉ là dụng cụ bé nhỏ trong bàn tay Chúa. Chúng ta xác tín rằng Chúa thấy hết những gì ta làm và Chúa cùng làm với ta. Bởi vì chính Chúa ban cho ta sức mạnh, quyền năng, tình yêu, bình an…Vì nếu không có Chúa và ân sủng Người trợ giúp, tất cả những gì ta làm chỉ đơn giản như những hoạt động từ thiện và xã hội. Vậy chúng ta hãy vui mừng vì ta được tham dự vào Nước Thiên Chúa, được tuyển chọn và được cứu độ.

 

Cuộc đời mỗi người Linh mục, Tu sĩ hay Kitô hữu, chúng ta đều được mời gọi trở nên môn đệ và mang sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Chúng ta hãy sẵn sàng phục vụ Chúa và Giáo Hội trong những môi trường ta đang sống và hãy sẵn sàng ra đi đến bất cứ nơi nào mà Chúa và Giáo Hội cần. Đức Thánh Cha Phanxicô cũng kêu gọi Linh Mục và cả chúng ta nữa “Hãy dấn thân phục vụ người nghèo, sẵn sàng ra đi để đến với mọi người đang sống bên vùng ngoại vi, bên lề xã hội, đem cho họ tình thương của Thiên Chúa và niềm vui Tin Mừng.

 

Cánh đồng truyền giáo rộng lớn bát ngát mà thiếu thợ gặt. Chúa cần chúng ta trở nên những thợ nhiệt tâm, là hiện thân của Chúa. Biết cầu nguyện và biết sẵn sàng ra đi, đem đến nơi ta hiện diện những tương quan thân ái, lời nói yêu thương mang lại bình an. Biết rao giảng Tin Mừng, nói về Chúa và tình yêu của Người, thể hiện tình yêu và sự cứu độ qua cử chỉ bác ái sẻ chia, cùng với lòng tôn trọng chân giá trị của con người. Có như thế, chúng ta mới công bố cho thế giới, cho nhân loại hôm nay chứng tá xác thực về một Thiên Chúa vẫn đang hiện diện và hoạt động; về Chúa Kitô – Đấng là Tình yêu, Bình an và Hạnh phúc đích thực của con người.

 

Lạy Thiên Chúa Cha là chủ mùa gặt, xin ban cho chúng con thêm nhiều thợ gặt nhiệt thành. Lạy Chúa Giêsu, xin sai chúng con và đồng hành với chúng con trong từng nơi chúng con đến, đế ở đó luôn tràn ngập bình an, chan hòa tình yêu và mọi người nhận biết tin yêu Chúa. Lạy Chúa Thánh Thần, xin thánh hóa và biến đổi từng người chúng con. Amen.

Về mục lục

.

LOAN BÁO TIN MỪNG LÀ SỐNG CHỨNG NHÂN

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Lc 10,1-12.17-20

(1) Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. (2) Người bảo các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. (3) Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. (4) Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. (5) Vào bất cứ nhà nào, thì trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này!” (6) Nếu ở đó có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy. Bằng không, thì bình an đó sẽ quay về với anh em. (7) Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. (8) Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. (9) Hãy chữa những người đau yếu trong thành và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”. (10) Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên, các ông phải biết điều này: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”. (12) Thầy nói cho anh em hay: Trong ngày ấy, thành Xơ-đom còn được xử khoan hồng hơn thành đó”. (17) Nhóm Bảy Mươi Hai trở về hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến Danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con”. (18) Đức Giêsu bảo các ông: “Thầy đã thấy Xatan như một tia chớp từ trời sa xuống. (19) Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bò cạp và mọi thế lực kẻ thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. (20) Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em. Nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”.

  1. Ý CHÍNH:

Đức Giêsu chỉ định bảy mươi hai người làm môn đệ và sai họ từng hai người đi thực tập truyền giáo. Các ông làm theo lời Thầy dạy và đã đạt được kết quả mỹ mãn. Đó là ma quỷ đã phải khuất phục trước các ông.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 1-2: + Chúa chỉ định bảy mươi hai ngườiSố bảy mươi hai ở đây ám chỉ dân ngoại. Có hai truyền thống về con số này: Truyền thống Do thái (Hípri) ghi bảy mươi, đang khi truyền thống Hy-lạp lại ghi bảy mươi hai. Luca ghi theo truyền thống Hy-lạp. Sai các ông cứ từng hai người một đi trướcĐi hai người để dễ dàng trợ giúp cho nhau (x. Gv 4,-12). Thời Giáo hội sơ khai, các Tông đồ đã đi truyền giáo từng hai người: Bácnaba đi với Saolô (x. Cv 13,2); Giuđa đi với Xila (x. Cv 15,27); Bácnaba đi với Máccô; Phaolô với Bácnaba (x. Cv 15,35); Timôthê với Êráttô (x. Cv 19,22). Phân biệt hai chức vụ Tông đồ và Môn đệMÔN ĐỆ là những người nhận Đức Giêsu làm Thầy và đi theo để nghe Người giảng và sống theo Lời Người. Có bảy mươi hoặc bảy mươi hai môn đệ. Các ông cũng được Đức Giêsu sai đi trước đến những nơi mà chính Người sẽ tới (x. Lc 10,1). Khi Đức Giêsu rao giảng ở đâu, các môn đệ tụ tập đến nghe, rồi sau đó lại trở về với gia đình vợ con của mình. Còn TÔNG ĐỒ là 12 người được Đức Giêsu chọn trong số 72 môn đệ (x. Lc 6,13). Và cũng được sai đi rao giảng Tin mừng (x. Lc 9,2). Các ông phải bỏ mọi sự mà đi theo Đức Giêsu (Lc 18,28). Các ông được chứng kiến các phép lạ Người làm (x. Lc 7,11); Được tham dự bữa Tiệc ly (x. Mt 26,26-29); Cùng trải qua biến cố Tử Nạn và Phục Sinh với Người (x. Lc 24,36-43); Được Người trao quyền cầm buộc và tháo cởi (x. Mt 16,19), quyền chăn chiên (x. Ga 21,15-17); Sẽ được đồng bàn trong Vương quốc với Người, và được ngồi trên 12 tòa mà xét xử 12 chi tộc Ít-ra-en (x. Lc 22,30); Cuối cùng các ông còn được sai đi làm chứng nhân cho Đức Giêsu đến tận cùng thế giới (x. Mt 28,19; Cv 1,8). Lúa chín đầy đồngCác Ngôn sứ trong Cựu ước đã từng miêu tả ngày phán xét như là một ngày gặt hái (x. Is 41,15; Gr 51,33). Ông Gioan Tẩy giả đã kể ra việc phán xét của Đấng Thiên Sai trong ngày tận thế tương tự như các động tác của người nông dân sau mùa gặt lúa (x. Lc 3,17). Ở đây, Đức Giêsu cho môn đệ tham dự vào công trình của thời Cánh chung của Người bằng sự cầu nguyện và rao giảng Tin mừng.

– C 3-6: + Như chiên giữa bầy sói: Các môn đệ của Đức Giêsu sẽ đi vào trần gian đầy những kẻ thù đang tìm cách bách hại. Nhưng các ông phải đi với bàn tay không mang theo vũ khí, tâm hồn đầy nhân từ và hiền lành như con chiên. Các ông phải đặt trọn niềm cậy trông vào Chúa quan phòng. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đườngVì người Do thái và các dân vùng Trung Đông gặp nhau thường chào hỏi hàn huyên lâu giờ. Đức Giêsu muốn các môn đệ đừng để các việc trần thế chi phối khi đi rao giảng. Trong các sách của Luca, các sứ giả của Tin mừng đều đi như chạy: Đức Maria chạy đi thăm bà Ê-li-sa-bét, các mục đồng chạy đến máng cỏ, Phi-líp-phê chạy để đuổi kịp chiếc xe của một người Ê-thi-ô-pi (x. Cv 8,3). + “Bình an cho nhà này”: Luca lấy lại cách chào hỏi thông thường của Cựu ước (1 Sm 25,6). Đây là một lời cầu chúc phúc lộc an khang, một lời chúc lành. Bình an là mức sung mãn của sự sống, là món quà cao quý nhất mà Đấng Mêsia ban tặng (x. Lc 1,79). +Có ai đáng hưởng bình anĐó là người tin và đón nhận sự bình an của Thiên Chúa.

– C 7-9: + Người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đóĐây là một sự cởi mở của Đức Giêsu. Người cho phép các môn đệ được ăn mọi thức ăn do người ta dọn cho, mà không cần bận tâm xem chúng là thức ăn tinh khiết hay ô uế theo Luật Môsê (x. Cv 10,9-15). Làm thợ thì đáng được trả côngĂn những thức người ta dọn cho không phải là ăn của bố thí, nhưng là một thứ lương bổng do sự công bằng đòi buộc, tương xứng với Tin mừng cao quý mà các ông đem đến. Trách nhiệm của Cộng đoàn Hội thánh là phải lo phương tiện sống và hoạt động cho các người rao giảng Tin mừng. Sau này thánh Phaolô cũng nói rằng: “Quả vậy Kinh thánh có nói: Đừng bịt mõm con bò đang đạp lúa, và làm thợ thì đáng được trả công: (1 Tm 5,18; Mt 10,10; Đnl 25,4). Nơi khác Ngài còn nói: “Một khi chúng tôi đã gieo của thiêng liêng cho anh em, thì nếu chúng tôi có gặt của vật chất nơi anh em, thì đâu có phải là chuyện quá đáng” (1 Cr 9,11). Tuy nhiên thánh Phaolô lại từ chối quyền gặt hái của cải vật chất ấy cho bản thân ngài (x. 1 Cr 9,12-14 ; 2 Cr 11,7-9). + Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kiaNgười Tông đồ phải tránh lo lắng tìm sự tiện nghi ăn ở cho mình, nhưng cần chuyên tâm chu tòan sứ vụ. + “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”: Các môn đệ đi trước dọn đường cho Đức Giêsu sắp đến. Người chính là hiện thân của Nước Thiên Chúa.

– C 10-12: + Vào bất cứ thành nào mà người ta không đón tiếp…Đức Giêsu cảnh báo cho các môn đệ biết họ sẽ bị người ta từ chối đón nhận Tin mừng. Bấy giờ các ông vẫn phải cho họ biết: Dù họ có muốn hay không, một ngày kia, Thiên Chúa sẽ hiển trị. Đó là ngày Phán xét. Nếu họ cố tình chối từ, họ sẽ bị loại ra khỏi Nước Thiên Chúa. + Thành Xơ-đom: Là một địa danh thời Tổ phụ Ap-ra-ham. Thành này đã bị phạt vì đã phạm quá nhiều tội lỗi (St 10,19).

– C 17-20: + Nghe đến Danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con: Ma quỷ phải chịu xuất ra khỏi người bị chúng ám khi các môn đệ ra lệnh nhân Danh Đức Giêsu (x. Cv 16,18). + Xatan từ trời sa xuống: Xatan là cái tên ám chỉ ma quỷ, kẻ đối lập và thù ghét Thiên Chúa. Do đó, khi Nước Thiên Chúa xuất hiện, thì quyền lực của Xatan sẽ bị lật đổ. + Quyền năng để chà đạp lên rắn rết…Các loài vật kể ra ở đây là khí giới của Xatan. Đức Giêsu chiến thắng Xatan thì cũng tước đoạt hết khí giới của chúng và bắt chúng phải phục quyền (Rm 8,37-39 ; Ga 12,31). + Mừng vì tên được ghi trên trời: Ở đây là cuốn sách trường sinh, trong đó có ghi tên những người được ơn cứu độ (x. Đnl 12,1; Kh 3,5).

  1. CÂU HỎI: 1) Đức Giêsu sai bao nhiêu môn đệ đi truyền giáo ? 2) Tại sao môn đệ phải đi từng hai người một ? 3) Có bao nhiêu Tông đồ ? 4) Tông đồ khác với môn đệ thế nào ? 5) Tại sao Đức Giêsu lại truyền cho môn đệ đừng chào hỏi ai dọc đường và chúc bình an cho nơi mà các ông đến ở trọ ? 6) Hãy cho biết lý do các môn đệ lại được quyền ăn mọi thứ người ta dọn cho dựa theo Lời Chúa trong Thánh kinh ? 7) Thành Xơ-đom là thành nào ? 8) Khi nào thì quyền lực của Xatan hòan tòan bị sụp đổ ?

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ gặt lúa về” (Lc 10,2):
  2. CÂU CHUYỆN:

1) LÀM CHỨNG CHO CHÚA GIỮA ĐỜI THƯỜNG:

Tại Thủ đô Ma-ni-la nước Phi-líp-pin, có trường Đại học Công giáo A-ta-di-ô do các cha dòng Tên sáng lập, tọa lạc trên một ngọn đồi. Đây là một trường cung cấp rất nhiều nhân tài cho đất nước Phi. Dưới chân trường Đại học này là một khu lao động nghèo, trong đó có một Cộng đoàn tu sĩ Tiểu đệ. Đa số các tu sĩ ở đây đã từng ở Việt nam.

Một hôm, một vị linh mục dòng Tên người Mỹ, là Giáo sư Đại học A-ta-di-ô tình cờ đi lạc vào khu lao động ấy và giữa đường gặp được một tu sĩ Tiểu đệ người Bỉ. Sau khi làm quen, vị linh mục người Mỹ đã hỏi tu sĩ người Bỉ: “Thầy làm gì ở khu lao động này ?” Tu sĩ người Bỉ kia trả lời: “Hằng ngày tôi đi chợ, nấu ăn, giặt quần áo, đi làm thuê làm mướn cho những ai cần”. Nghe thế, vị linh mục người Mỹ rất lấy làm tiếc về sự hy sinh lãng phí của tu sĩ trí thức người Bỉ kia. Ông cũng cho biết công việc của ông ở đây là: Dạy học cho các sinh viên, đi thuyết trình đó đây nhằm rao giảng Tin mừng qua việc đào tạo thêm những nhà trí thức phục vụ Giáo hội Phi.

2) HÃY CHIẾN THẮNG SỰ DỮ BẰNG SỰ TIN YÊU:

Vào một buổi tối nọ, một diễn giả nổi tiếng là John Keller được mời thuyết trình trước khoảng một trăm ngàn người tại vận động trường Los Angeles. Đang diễn thuyết, bỗng ông dừng lại và nói: “Xin các bạn đừng sợ. Tôi sắp cho tắt tất cả đèn trong sân vận động này”.

Đèn tắt, sân vận động chìm sâu trong bóng tối. Ông John Keller lại nói tiếp: “Bây giờ tôi sẽ đốt lên một que diêm. Những ai nhìn thấy ánh lửa của que diêm của tôi đốt thì hãy kêu lớn tiếng: “Thấy rồi !” Một que diêm vừa được bật lên, thì cả vận động trường đều vang lên “Thấy rồi!”

Sau đó đèn trong vận động trường được bật sáng trở lại và ông John Keller giải thích: “Ánh sáng của một hành động nhân ái dù nhỏ như một que diêm cũng có thể chiếu sáng trong bóng đêm tăm tối của nhân loại y như thế”.

Rồi một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại vụt tắt và một giọng nói vang lên ra lệnh: “Tất cả những ai có mang theo hộp quẹt, xin hãy đốt cháy lên!” Bỗng chốc, cả vận động trường đều rực cháy sáng.

Rồi ông John Keller kết luận: “Nếu tất cả mọi người chúng ta đều hợp lực cùng nhau, chúng ta sẽ có thể chiến thắng bóng tối, chiến thắng sự dữ và sự oán thù bằng những đốm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của chúng ta”.

  1. THẢO LUẬN: 1)Thế giới đã nhận biết và ca ngợi điều gì trong cuộc sống và hoạt động của Mẹ Têrêsa Can-quýt-ta ? 2)Ngày nay, muốn làm tông đồ truyền giáo hữu hiệu cho đồng bào Việt nam, chúng ta phải làm gì ?
  2. SUY NIỆM:

1) Có nhiều cách thức truyền giáo: Cuộc đối thoại giữa vị linh mục dòng Tên người Mỹ và vị tu sĩ dòng Tiểu đệ người Bỉ trong câu chuyện trên cho chúng ta thấy có nhiều cách truyền giáo trong Hội thánh: Vị linh mục dòng Tên đại diện cho đông đảo các nhà truyền giáo trên khắp thế giới, ngày đêm rao giảng Tin mừng bằng khả năng tri thức và các phương tiện sẵn có. Nhưng bên cạnh đó, còn có các tu sĩ âm thầm sống giữa những người nghèo, chia sẻ sự lao động chân tay cực nhọc với những người nghèo khác… mà tu sĩ Tiểu đệ người Bỉ trong câu chuyện trên là một bằng chứng. Đây là những chứng nhân truyền giáo trong âm thầm, lấy cuộc sống chia sẻ để làm chứng cho Chúa. Cả hai đường lối truyền giáo ấy đều có giá trị và thực sự đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp cho Hội thánh.

2) Điều kiện của các thừa sai: Khi sai các môn đệ đi truyền giáo, Đức Giêsu đã căn dặn họ phải sống hiền lành như con chiên và phải có lối sống đơn giản: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường”. Như vậy, một cuộc sống siêu thoát, không lệ thuộc vào của cải đời này, không phí thời giờ vào những chuyện không đâu, trông cậy vào Chúa quan phòng, khiêm tốn đón nhận sự giúp đỡ về nhà ở, cơm ăn… Tôn trọng tự do của tha nhân, chấp nhận có thể bị từ chối xua đuổi… đó chính là những điều mà những ai muốn làm chứng cho Nước Trời cần lưu tâm thực hiện.

3) Sống đạo và truyền đạo: Hiện nay dân số Á châu chiếm gần hai phần ba thế giới. Nhưng số người nhận biết Chúa chưa được 3 phần trăm. Á châu chính là cánh đồng lúa chín đang cần thợ gặt. Là thành phần của Hội thánh, mỗi tín hữu chúng ta cũng phải thi hành sứ vụ tông đồ. Chúng ta phải sống thế nào để những người khác phải bỡ ngỡ giống như người Do thái khi nhìn vào Cộng đoàn Hội thánh sơ khai đã thốt lên: “Xem kìa, họ thương nhau là dường nào !”. Kitô giáo không phải là một lý thuyết nhưng là chính sức sống của Đức Giêsu. Sống đạo là sống sức sống của Chúa và truyền đạo là truyền sức sống ấy sang cho người mình tiếp xúc.

4) Gây thiện cảm để giới thiệu Chúa cho lương dân: Gần đây hội nghị các Giám mục Á châu đã liệt kê một số điều mà các tín hữu cần học hỏi nơi các dân tộc châu Á như sau: Học tập cách cầu nguyện ăn chay và bố thí của người Hồi giáo. Học tập cách chiêm niệm nơi người Ấn giáo. Học tập sự từ bỏ của cải và tôn trọng sự sống nơi người Phật tử. Học cách xây dựng gia đình và xã hội có trật tự nơi Khổng giáo. Học sống đơn sơ khiêm tốn nơi Lão giáo… Càng học, ta càng nhận ra giáo lý Đức Giêsu tiềm ẩn trong giáo lý các tôn giáo đó và nhờ hiểu biết họ, ta sẽ gây được thiện cảm với họ để dễ dàng giới thiệu Đức Giêsu cho họ hơn.

  1. NGUYỆN CẦU

– LẠY CHÚA GIÊSU, Xưa Chúa đã sai các môn đệ đi truyền giáo trong tư thế siêu thoát, không cậy dựa vào thế lực của tiền bạc hay các phương tiện vật chất. Nay xin Chúa cũng cho chúng con biết chia sẻ Tin mừng với niềm vui của người mục tử khi tìm thấy con chiên lạc. Cho chúng con biết nói về Chúa với sự xác tín và kèm theo những dấu chỉ tình yêu. Xin ban cho chúng con góp phần đẩy lùi văn hóa sự chết, là sự dữ, bất công và sa đọa. Xin giúp chúng con biết lau khô những giọt lệ của bao người đang đau khổ cả về thể xác cũng như tinh thần.

– LẠY CHÚA, thế giới thật bao la và vòng tay của chúng con lại quá bé nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm chặt tay nhau. Xin cho chúng con biết hợp tác với những người thiện chí dù họ không cùng niềm tin với chúng con, để mọi người cùng nhau loại trừ các tệ nạn xã hội, xây dựng một xã hội mới công bình và nhân ái theo thánh ý Chúa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA..- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN_C

Về mục lục


CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN_C

Lời Chúa: Is 66,10-14c; Gl 6,14-18; Lc 10,1-12.17-20

——-

Mục lục

1. Sống và loan báo tin vui  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

2. Chúa sai tôi đi  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Làm gì cho người nghèo? (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

4. Trở thành sứ giả đem bình an và niềm vui (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

5. Hãy ra đi rao giảng Tin mừng (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

6. Niềm vui thánh đức (Trầm Thiên Thu)

7. Nguyên nhân của niềm vui Kitô hữu (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

8. Bình an – Quả tặng của các môn đệ Đức Giêsu  (Lm. Văn Hào, SDB)

9. Cẩm nang nhà truyền giáo (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An) 

10. Điều kiện cần của người thừa sai  (Jos. Vinc. Ngọc Biển)

11. Hãnh diện vì thập giá Đức Giêsu Kitô  (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ)

12. Con chiên giữa sói rừng (AM. Trần Bình An)

13. Cầu nguyện cho việc truyền giáo  (Lm. Anthony Trung Thành)

14. Bình an, hành trang của người truyền giáo  (Dã Quỳ)

15. Loan báo Tin mừng là sống chứng nhân (Lm. Đan Vinh)

16. Chúa Nhật 14 Thường niên_C (Lm. Antôn)

 

 

SỐNG VÀ LOAN BÁO TIN VUI

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
 
 Tín hữu là người cảm nhận được niềm vui khi theo Chúa và thao thức đem Tin vui ấy để kể lại cho mọi người. Năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố Tông huấn “Niềm vui của Tin Mừng”. Qua Tông huấn này, vị Chủ Chăn của Giáo Hội Công giáo mời gọi mọi thành phần Dân Chúa cảm nhận niềm vui của những người tin Chúa, đồng thời nhiệt thành cộng tác để loan báo niềm vui ấy cho mọi người sống trong thời đại hôm nay. Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Người loan báo Tin Mừng không bao giờ mang bộ mặt của một người vừa đi đưa đám về!… và chớ gì thế giới của thời đại chúng ta, một thế giới đang kiếm tìm, khi thì trong lo âu, khi thì trong hy vọng, có thể nhận được tin mừng không phải từ những người rao giảng rầu rĩ, chán nản, mất kiên nhẫn hay lo âu, nhưng từ những thừa tác viên Tin Mừng đang sống một cuộc đời đầy nhiệt huyết, những người trước đó đã nhận được niềm vui của Đức Kitô” (Số 10).
 
Khi trình bày đức tin, nhiều người trong chúng ta thường nhấn mạnh đến một chuỗi những ràng buộc mà ít khi đề cập đến niềm vui và vinh dự của người công giáo. Có lẽ vì thế mà đời sống đạo nơi một số tín hữu trở nên miễn cưỡng, nặng nề, không có sức thuyết phục đối với  anh chị em lương dân. Hãy nghe ngôn sứ Isaia, một người đã trải nghiệm niềm vui vì được Chúa yêu thương chăm sóc, diễn tả: “Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy…”. Người tin vào Chúa trước hết cảm thấy vui vì có Chúa giữ gìn. Mặc dầu trải qua biết bao thử thách và giông tố cuộc đời, họ vẫn vui vì đang sống trong sự chở che của Chúa và tin vào quyền năng của Ngài. Thiếu niềm vui trong đời sống đức tin, những thực hành đạo đức sẽ trở nên trống rỗng vô hồn. Bởi lẽ chính niềm vui thúc đẩy chúng ta mến Chúa và cầu nguyện với Ngài. Niềm vui thiêng liêng ấy cũng giúp ta được sức mạnh để vươn lên trong cuộc sống, quảng đại bao dung với tha nhân.
 
Tín hữu là người sống và loan báo niềm vui. Như Ông Môisen trong Cựu ước chọn bảy mươi hai vị kỳ lão, Chúa Giêsu sai bảy mươi hai môn đệ, để cộng tác với Người trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Chân dung người loan báo Tin vui được chính Chúa Giêsu phác họa. Họ không phải là nhà doanh nghiệp, không phải chính trị gia hay chuyên viên kỹ thuật. Họ đi đến mọi nẻo đường của cuộc sống. Món quà họ đem đến cho mọi người là sự bình an. Nội dung sứ điệp họ loan báo rất đơn giản: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”. Đây cũng chính là nội dung sứ điệp từ thời ngôn sứ Isaia: “Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết”. Điều các môn đệ đem đến cho mọi người, trước hết là niềm vui nội tâm do đức tin đem lại. Nhờ niềm vui thiêng liêng đó, mọi người nghe sẽ được thuyết phục và đón nhận Lời Chúa.
 
Ngày hôm nay, Chúa cũng vẫn gọi và sai chúng ta đi đến mọi nẻo đường của cuộc sống. Thừa sai là bản chất của Giáo Hội. Mọi thành phần dân Chúa đều được mời gọi sống ơn gọi thừa sai phù hợp với hoàn cảnh sống và điều kiện cụ thể của mình. Đây là điều ít được chúng ta chú ý. Một bệnh nhân ốm đau liệt lào; một người già yếu không mấy khi ra khỏi nhà; một người sống trong môi trường công nhân thợ thuyền… tất cả đều là những tông đồ đang được Chúa sai đi để loan báo Tin vui. Nội dung của lời loan báo rất đơn giản, đó là Chúa yêu con người và Ngài khuyên họ hãy sống ngay lành thánh thiện. Người được sai đi có trách nhiệm loan báo Lời Chúa, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện, kể cả trong trường hợp bị khước từ và xua đuổi. Giống như người gieo hạt cần mẫn miệt mài làm tròn bổn phận mình, còn Chúa sẽ làm cho hạt ấy nảy mầm và lớn lên.
 
Một khi xác tín vào tình yêu thương của Chúa, và chúng ta tìm được niềm vui nơi Ngài, những khó khăn ta gặp phải trên đường đời không làm ta sợ hãi và thất vọng. Thánh Phaolô, sau khi đã gặp gỡ Chúa Giêsu, đã đặt lý tưởng sống của mình nơi Người. Thánh nhân đã chia sẻ: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”. Đối với ngài, mọi cố gắng nỗ lực đều nhằm đến việc tôn vinh Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá. Thập giá, đau khổ là điều mà mọi người muốn né tránh, thì Thánh Phaolô lại coi đó là một vinh dự và là bằng chứng của tình Chúa yêu thương.
 
Những ai nhiệt thành loan báo niềm vui được Chúa Giêsu hứa ban phần thưởng cao quý, đó là tên của họ được ghi khắc trên trời. Đây là một cách diễn tả hạnh phúc vĩnh cửu mà Chúa ban cho những ai trung tín với Người. Ghi khắc tên của ai, là dành cho chính bản thân người ấy một vị trí trang trọng với sự thân thương trìu mến. Tên của người tông đồ sẽ được khắc ghi trong trái tim của Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn của hạnh phúc và là đích điểm của cuộc đời chúng ta.

Về mục lục

.

CHÚA SAI TÔI ĐI

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Ta thường nghĩ rằng: Việc truyền giáo là dành cho các Giám mục, các Linh mục, Tu sĩ. Giáo dân không được học hỏi gì nhiều làm sao có thể truyền giáo được? Truyền giáo phải có nhiều phương tiện vật chất. Thiếu phương tiện không có thể làm gì được. Đó là những quan niệm sai lầm mà Chúa vạch cho ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.

Chúa Giêsu cho ta thấy truyền giáo là công việc của mọi người khi Người sai 72 môn đệ lên đường. Mười hai Tông đồ có tên tuổi rõ ràng. Đó là thành phần ưu tuyển. Đó là các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ. Còn 72 môn đệ không có tên tuổi rõ ràng. Đó là một đám đông không xác định. Đó là tất cả mọi người giáo dân. Khi sai 72 môn đệ, Chúa Giêsu muốn huy động tất cả mọi người thuộc đủ mọi thành phần tham gia vào việc truyền giáo.

Giáo dân tham gia vào việc truyền giáo bằng cách nào? Trước hết phải ý thức sự cấp thiết của việc truyền giáo: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Lúa đã chín vàng, phải nhanh chóng gặt về không được chậm trễ, nếu không lúa sẽ hư hỏng. Biết bao anh em đang chờ đợi được nghe Lời Chúa. Biết bao anh em đang tìm kiếm Chúa. Biết bao tâm hồn đang mở cửa đón Chúa. Ta phải mau mắn để khỏi lở mất cơ hội.

Thứ đến ta phải cầu nguyện. Sau khi đã chỉ cho thấy đồng lúa chín vàng, Chúa Giêsu không bảo lên đường ngay, nhưng Người dạy phải cầu nguyện trước. Cầu nguyện là nền tảng của việc truyền giáo. Vì truyền giáo phát xuất từ ý định của Thiên chúa. Ơn hoán cải tâm hồn là ơn Chúa ban. Nên cầu nguyện chính là truyền giáo và kết quả của việc truyền giáo bằng cầu nguyện sẽ rất sâu xa. Ta hãy noi gươngThánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu. Vị Thánh sống âm thầm, suốt đời chôn vùi trong 4 bức tường Dòng Kín. Thế mà nhờ lời cầu nguyện, Thánh nữ đã đem được nhiều linh hồn về với Chúa không kém thánh Phanxicô Xaviê, người suốt đời bôn ba khắp nơi để rao giảng Lời Chúa.

Khi đi truyền giáo, hãy trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chúa dạy ta: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” để ta biết sống khó nghèo. Để ta đừng cậy dựa vào tài sức riêng mình. Để ta đừng cậy dựa vào những phương tiện vật chất. Biết mình nghèo hèn yếu kém, biết những phương tiện vật chất chỉ có giá trị tương đối, ta sẽ biết trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chính Chúa sẽ làm cho việc truyền giáo có kết quả.

Sau cùng, truyền giáo là đem bình an đến cho mọi người. Niềm bình an đến từ thái độ quên mình, sống chan hoà với những người chung quanh. Niềm bình an đến từ sự hiệp thông, có cho đi, có nhận lãnh. Và nhất là, niềm bình an vì được làm con cái Chúa, luôn sống dưới ánh mắt yêu thương của Chúa.

Như thế việc truyền giáo hoàn toàn nằm trong tầm tay của mọi người giáo dân. Mọi người đều có thể ý thức việc truyền giáo. Mọi người đều có thể cầu nguyện. Mọi người đều có thể trông cậy vào Thiên chúa. Và mọi người đều có khả năng cho đi, nhận lãnh, sống chan hoà với người khác

Như thế mọi người, từ người già tới em bé, từ người bình dân ít học đến những bậc trí thức tài cao học rộng, từ người khoẻ mạnh đến những người đau yếu bệnh tật, tất cả đều có thể làm việc truyền giáo theo ý Chúa muốn.

Hôm nay, Chúa đang than thở với mọi người chúng ta: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Chúng ta hãy bắt chước tiên tri Isaia thưa với Chúa: “Lạy Chúa, này con đây, xin hãy sai con đi”.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1- Bạn có thấy việc truyền giáo là cấp thiết không?

2- Theo ý bạn, muốn truyền giáo thành công trong vùng này, người tông đồ cần có những đức tính nào?

3- Bạn có bao giờ cầu nguyện cho việc truyền giáo, cho người làm việc truyền giáo, cho những người chưa biết Chúa ở chung quanh bạn không?

4- Bạn đã bao giờ tham gia vào việc truyền giáo trong Giáo xứ, trong Giáo phận chưa?

Về mục lục

.

LÀM GÌ CHO NGƯỜI NGHÈO?

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Cuộc sống quanh ta có rất nhiều những mảnh đời bất hạnh. Bất hạnh vì thiếu ăn. Bất hạnh vì bệnh tật. Có người bất hạnh tâm hồn. Có người đau khổ về thể xác. Nỗi đau nào cũng cần được chia sẻ. Nỗi khổ nào cũng cần sự cảm thông nâng đỡ. Bởi vì như ai đó nói rằng: “Có một đường đi – đi cùng sẽ vui hơn. Có một nỗi đau – đau cùng sẽ nguôi ngoai”. Cuộc sống sẽ bớt đi những tủi nhục, những đắng cay khi con người biết quan tâm chia sẻ tinh thần và vật chất cho nhau. Dòng đời sẽ không còn nước mắt của sự bỏ rơi, từ chối hay khước từ.
Hôm nay khi nhìn vào dòng đời với những đau khổ thiếu thốn của nhân loại. Chúa Giê-su mời gọi chúng ta hãy thực thi 3 việc để làm vơi đi nỗi đau cho nhân thế. Đó là cầu nguyện cho có nhiều sứ giả của lòng xót thương – sống thanh thoát để dễ dàng đến với người nghèo – sẵn lòng xoa dịu nỗi đau cho các bệnh nhân. Vì chưng, ở giữa dòng đời hôm nay vẫn còn đó những mảnh đời bất hạnh đang rất cần chúng ta trợ giúp. Họ đang tuyệt vọng bởi dòng đời vô tình đưa đến với họ biết bao tai ương hoạn nạn. Họ đang rên xiết từng ngày bởi thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu cả tình thương nơi đồng loại.
Mấy tháng qua cá miền trung chết cũng dẫn đến dân chài thất nghiệp. Nạn thất nghiệp sẽ kéo theo đói nghèo khổ đau. Hàng ngàn gia đình đang đối diện với cái đói, cái nghèo . . . Hằng ngày ta vẫn bắt gặp những mảnh đời đói khổ, bệnh tật vẫn đang lê bước mưu sinh bằng đủ nghề vé số, ve chai, cửu vạn . . . để kiếm sống qua ngày hay chỉ mong qua được cửa ải trần ai ! Họ chính là những hạt lúa mà Chúa Giê-su kêu mời chúng ta hãy nhanh tay cứu giúp họ. Họ đang cần chúng ta nâng niu, bảo vệ khỏi rầy nâu là sự dữ đang vây bủa chung quanh. Họ đang cần chúng ta cứu giúp họ vượt qua cái đói, cái nghèo, cái khổ đau. Đừng để họ rơi vào tuyệt vọng khiến họ thành mồi ngon cho ma quỷ dẫn lối lạc xa Chúa.  Hãy cho họ thấy cuộc đời này vẫn tươi đẹp vì vẫn còn tình người che chở, ôm ấp, nâng đỡ họ.
Theo tường thuật của Thánh Luca, Chúa Giêsu đã sai đi rao giảng không phải chỉ nhóm 12 tông đồ mà còn cả nhóm 72 môn đệ nữa. Luca muốn nhấn mạnh rằng không riêng gì các tông đồ, mà tất cả mọi người đều được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng. Ngài cũng sai “từng nhóm hai người”  như ngầm ngụ ý: việc loan Tin mừng không phải là việc của một cá nhân riêng lẻ, mà là việc của cộng đoàn, không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải liên đới và liên kết với nhiều người khác.
Bên cạnh đó, việc loan báo Tin mừng cũng phải được làm song song với việc thực hành lòng thương xót dành cho anh em. Lòng thương xót thể hiện qua việc chữa lành bệnh tật. Lòng thương xót qua việc cứu giúp anh em. Khi chúng ta sống đạo mến thương như thế cũng là cách chúng ta loan bao tin mừng cho nhân thế hôm nay.
Ở Giáo xứ Hà nội hàng tháng các bạn trẻ vẫn hăng hái thu gom ve chai để kiềm tiền phát gạo, làm nhà cho người nghèo. Nhìn thấy từng tốp bạn trẻ với chiếc xe kéo ve chai khiến tôi thầm cám ơn Chúa vì giữa một xã hội hưởng thự ích kỷ hôm nay, vẫn còn đó những tâm hồn quảng đại với tha nhân, vẫn còn đó những đôi chân thanh thoát sống hết mình với tha nhân. Cách sống của họ chính là lời rao giảng hùng hồn về lòng Thương xót của Thiên Chúa dành cho con người. Đôi chân của họ ra đi luôn để lại cho đời những dấu ấn của tình yêu được tô thắm bởi lòng hăng say phục vụ Thiên Chúa. Họ rao giảng không bằng lời mà bằng chính sức trẻ, sự năng động của trẻ luôn sống hết mình cho người nghèo và vì người nghèo.
Ước gì đời ky-tô hữu chúng ta luôn là một đời chứng nhân cho Lòng Thương Xót của Chúa bằng gương lành bác ái, bằng lời nói về Chúa cho tha nhân. Xin cho chúng ta luôn có trái tim biết chạnh lòng thương xót những mảnh đời bất hạnh quanh ta để nhanh tay chia sẻ, ủi an họ. Xin cho đôi chân chúng ta luôn nhanh nhẹn ra đi đến với mọi phận người khổ đau hầu xoa dịu nỗi đau cho nhân thế. Amen.

Về mục lục

.

TRỞ THÀNH SỨ GIẢ ĐEM BÌNH AN VÀ NIỀM VUI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Có một điều tưởng chừng như khó hiểu, Chúa nhật tuần trước, Chúa Giêsu mời gọi : Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo tôi, nhưng đến Chúa nhật này, Lời Chúa lại muốn chúng ta trở thành sứ giả đem niềm vui và bình an đến cho thế giới. Như thế, liệu chúng ta có thể vui khi vác thập giá theo Chúa Giêsu không ? Chúng ta có thể đem bình an đến cho người khác khi chúng ta phải từ bỏ chính mình không ?

Chắc chắn Chúa không bao giờ đòi hỏi những điều mâu thuẫn hoặc những điều không thể thực hiện. Vác thập giá mình bước theo Chúa, chúng ta vẫn là sứ giả của niềm vui và bình an, điều này tùy thuộc vào việc chúng ta bước theo Chúa với thái độ nào và đón nhận thập giá hằng ngày với thái độ ra sao mà thôi.

Trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhiều lần mời gọi : Những người sống theo Tin Mừng của Đức Giêsu, trở thành môn đệ của Ngài, luôn phải thể hiện được niềm vui trên gương mặt và trong cuộc đời của mình. Đức Thánh Cha còn nhấn mạnh : Tôi không muốn nhìn thấy Giáo Hội có những Kitô hữu mà lúc nào cũng mang gương mặt ủ dột, buồn chán. Nhưng trái lại, chúng ta luôn thể hiện niềm vui vì có Chúa trong tâm hồn, chúng ta sẽ trở thành sứ giả của niềm vui vì chúng ta biết mình được Chúa yêu thương.

Trước đây, trong Cựu Ước, người ta thường trình bày Thiên Chúa như một vị quan tòa công thẳng mà quên rằng, trước hết, Ngài vẫn là Cha yêu thương. Vì chỉ nhìn Thiên Chúa như một vị quan tòa, một Đấng quyền năng ngự trên ngai trời nên con người sợ hãi, chỉ dám đứng xa để chiêm bái thờ lạy thay vì yêu mến. Tiên tri Isaia đã trình bày Thiên Chúa như một người cha ân cần lo cho con cái, như một ông chủ tốt bụng. Thiên Chúa là Đấng sẽ thay đổi bộ mặt và vận mệnh của Giêrusalem, Ngài sẽ biến Giêrusalem trở nên thái bình thịnh vượng. Đức Chúa phán : Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành Đô mà hoan hỉ. Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sông cả, Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông và nâng niu trên đầu gối. Lòng các người sẽ tràn đầy hoan lạc và niềm vui. Như thế, niềm vui của Giêrusalem chính là niềm vui của dân Chúa. Vui, vì họ được Chúa yêu thương. Khi đã biết mình được yêu Chúa thương, chúng ta sẽ cảm nhận được hạnh phúc và bình an trong tâm hồn.

Tin Mừng hôm nay cho thấy, Chúa Giêsu chọn bảy mươi hai môn đệ và sai các ông đi đọn đường cho Chúa. Chúa cũng nhìn thấy một cánh đồng truyền giáo bao la đang thiếu những người thợ lành nghề, Chúa muốn các tông đồ cầu nguyện xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa. Có thể những đòi hỏi phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày là những điều kiện khó vượt qua đối với nhiều người, khiến họ ngại ngần bước theo Chúa. Chúa còn tiên báo những khó khăn trước mắt mà những người theo Chúa sẽ gặp phải, cùng những điều kiện phải có : Các con ra đi như chiên con vào giữa sói rừng. Đừng đem theo túi tiền, bao bị, giày dép.

Liệu mỗi chúng ta có vui và có bình an để ra đi loan báo Tin Mừng với những dự báo và những điều kiện của Chúa không ? Chắc chắn với những người bước theo Chúa vì miễn cưỡng hoặc vì một lý do nào đó, sẽ khó có thể chấp nhận lời mời gọi này. Ngược lại, những người nào đón nhận lời mời gọi này như là một ân ban của Chúa, sẽ có được niềm vui. Như thế, niềm vui của người theo Chúa hoàn toàn tùy thuộc vào thái độ chúng ta đón nhận mọi hoàn cảnh. Tin Mừng tuần trước chúng ta đã suy niệm về ơn gọi theo Chúa, quyết định này không thể là một quyết định bồng bột ngẫu hứng, nhưng là một chọn lựa quyết định tự do, sau khi đã suy nghĩ cân nhắc cách quảng đại.

Chúa muốn những sứ giả của Chúa ra đi với hai bàn tay trắng, không tiền bạc, cũng không tài sản, không lệ thuộc vào hình thức áo quần bên ngoài. Ra đi trong sự thanh thoát như thế, để các ông biết cậy trông vào Chúa và ý thức rằng thành quả các ông đạt được là do Chúa chứ không do của cải hoặc khả năng riêng của các ông. Chúa muốn các môn đệ chỉ mang một hành trang và cũng là tài sản duy nhất đó là sự bình an. Như thế, các môn đệ của Chúa trước tiên phải là những ngườicó sự bình an trong tâm hồn và đem bình an cho người khác. Để có được sự bình an thực sự trong tâm hồn, trước tiên tâm hồn phải có Chúa hiện diện. Đó là một tâm hồn sạch tội, không để trong mình sự thù oán gian dối quanh co, nhưng để Chúa làm chủ và điều khiển từng lời nói và hành động của mình. Kế đến, để có được sự bình an, cần có một tâm hồn thanh thoát, không dính bén vào của cải vật chất. Con người có xu hướng tìm an toàn và niềm vui nơi vật chất, nhưng thực tế, càng chạy theo vật chất và niềm vui của thế gian, con người càng mất an toàn và bất an trong tâm hồn. Một khi tâm hồn không có bình an, chắc chắn sẽ không có niềm vui, và không có niềm vui thì không thể biểu lộ trên gương mặt, trong cuộc sống và không thể đem niềm vui và bình an cho người khác.

Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói : Bình an cho nhà này ! Đây không chỉ là lời cầu chúc hoặc lời chào xã giao, nhưng Chúa cho thấy : Nếu nơi đó có ai xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy. Điều đó chứng tỏ rằng, bình an thật sự từ trong tâm hồn của người môn đệ Chúa, sẽ có tác động trên người khác qua con người, qua lời nói của người môn đệ. Cùng với sự bình an nội tâm là niềm vui sâu lắng được lan tỏa đến những người chung quanh : Nhà náo đón tiếp anh em, thì hãy ở lại trong nhà đó, ăn thức ăn người ta dọn cho. Một khi tự nguyện và hoàn toàn tự do bước theo Chúa, làm mộn đệ của Chúa, thì những khó khăn bên ngoài cũng như những thử thách của cuộc sống sẽ không thể làm lay động cuộc sống nội tâm của chúng ta. Một khi hoàn toàn tự do gỡ mình khỏi ràng buộc bởi vật chất và những chuyện ăn uống, chúng ta sẽ nếm hưởng được niềm vui sâu lắng trong tâm hồn.

Con người và thế giới hôm nay đang dư thừa sự ồn ào náo nhiệt, nhưng lại thiếu vắng niềm vui trong tâm hồn. Xã hội tạo rất nhiều sự thoải mái cho con người, nhưng vẫn không đem lại cho con người sự bình an thật sự. Nhiều người đang đầy ắp nỗi buồn sâu thẳm trong tâm hồn, khiến cho bên ngoài họ chỉ có thể nhe răng, chứ không thực sự cười vui, hoặc miệng mỉm cười nhưng ánh mắt vẫn buồn. Trong xã hội bất an và buồn chán hôm nay, mỗi chúng ta phải trở thành những sứ giả đem bình an và niềm vui đến cho cuộc sống xã hội này. Chúng ta sẽ phải sống niềm vui Tin Mừng nơi công ty, chỗ làm việc, để mọi người gặp gỡ, tiếp xúc với người Kitô hữu có thể cảm nhận được niềm vui và sự bình an từ chúng ta lan tỏa đến mọi người chung quanh. Là Kitô hữu, chúng ta vui vì biết Chúa và tin Chúa ; vui, vì chúng ta đang sống với niềm hy vọng hạnh phúc bên Chúa.

Được mời gọi trở thành sứ giả đem bình an cho mọi người, trước hết, hãy đem bình an về trong gia đình của mình. Nhiều gia đình đã mất bình an và niềm vui bởi các cuộc cãi vã tranh giành, nhiều gia đình buồn bã vì thiếu tiếng cười, nhưng lại dư thừa những lời chửi bới. Hãy bắt đầu bằng việc tái lập sự bình an trong tâm hồn, tìm lại niềm vui nội tâm nơi Bí tích Giải tội, hãy đem Chúa vào trong tâm hồn mình qua việc thường xuyên tham dự thánh lễ, rước lễ và đem Chúa về gia đình của mình. Có Chúa trong tâm hồn, chúng ta sẽ có sự bình an và trở thành người đem bình an cho gia đình và lối xóm.

Lời Chúa hôm nay cũng được gửi tới cách riêng cho các bạn trẻ là những người đang hiện diện trong mọi lãnh vực của xã hội. Thiên Chúa đang cần sự quảng đại và nhiệt thành của tuổi trẻ, Ngài đang cậy nhờ các bạn bước xuống cánh đồng thế giới hôm nay. Thiên Chúa đang muốn các bạn trở thành những người thợ lành nghề của Chúa. Dù làm bất cứ nghề liêm chính nào, các bạn luôn nhớ rằng mình là người thợ của Chúa. Như vậy, mình sẽ làm việc không chỉ với tư cách là một công nhân của một công ty, nhưng còn làm việc vì mình là thợ được Chúa huấn luyện và sai đến công ty này. Nơi đây, các bạn sẽ là người đem bình an và niềm vui đến cho các bạn công nhân khác, qua thái độ và tinh thần làm việc của mỗi người.

Có thể nhiều người trên miệng mỉm cười nhưng trong lòng vẫn chảy nước mắt. Còn chúng ta, dù cuộc sống khiến cho mồ hôi vẫn chảy trên trán, nhưng trên môi ta vẫn không mất đi nụ cười.

Xin Chúa ban cho chúng ta sự bình an và niềm vui thật trong tâm hồn để chúng ta có thể trở thành người đem nụ cười, niềm vui và bình an lan tỏa đến anh chị em và cuộc sống chung quanh. Amen.

Về mục lục

.

HÃY RA ĐI RAO GIẢNG TIN MỪNG

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Câu đầu trang Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu chọn thêm bảy mươi hai người nữa, và sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới (x. Lc 10, 1). Như thế, sứ mạng loan báo Tin Mừng không chỉ dành riêng cho nhóm 12 Tông Đồ, mà còn được trao cho các môn đệ khác nữa. Ðây là một đặc điểm tiêu biểu của thánh sử Luca khi muốn nhấn mạnh đến sứ mạng phổ quát của việc loan báo Tin Mừng trong đó chúng ta có nhiệm vụ này.

Trong Sứ Điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo Năm 2011, khi nhắc đến tính chất thời sự và cấp thiết của sứ vụ truyền giáo mà Chúa Kitô đã ủy thác cho Giáo Hội. Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết : “Sứ vụ này vẫn chưa được hoàn tất… Một cái nhìn chung về nhân loại cho thấy sứ mạng ấy vẫn còn ở giai đoạn khởi đầu và chúng ta phải hết sức dấn thân phục vụ sứ mạng ấy” (J.P. II, RM 1). Chúng ta không thể tiếp tục an tâm khi nghĩ rằng sau hai ngàn năm, vẫn còn những dân tộc không biết Chúa Kitô và chưa được nghe biết sứ điệp cứu độ của Ngài. 

Đúng là “lúa chín thì nhiều, nhưng thợ gặt lại ít” (Lc 10,2). Lời Chúa Giêsu cách đây gần 2000 năm vẫn còn luôn thời sự, Ngài mời gọi chúng ta : “Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người” (Lc 10,2). Cánh đồng của Thiên Chúa thật bát ngát mênh mông, những người được sai đi thỏa sức làm việc. Nhưng Chúa Kitô không phải chỉ giới hạn trong việc sai đi, Chúa còn trao cho các nhà truyền giáo những quy luật rõ ràng để hành xử. Trước hết, Chúa “sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới ” (Lc 10,1), để họ giúp đỡ lẫn nhau và làm chứng cho tình yêu huynh đệ. Chúa cảnh báo cho họ biết trước là họ sẽ như “chiên ở giữa sói rừng” (Lc 10,3), nghĩa là trước sự dửng dưng, không đón tiếp, có khi bị từ chối, bị ngược đãi, bị bắt bớ bởi thế gian dành cho họ, hiền hoà là thái độ luôn cần phải có. Vì là sứ giả hòa bình, nên họ phải mang trong mình sứ điệp hoà bình ấy như lời Chúa dạy : “Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: Bình an cho nhà này” (Lc 10,3), và Chúa khuyên họ : “Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép” (Lc 10, 4). Tại sao vậy? Thưa là để người được sai đi sống với những gì Chúa Quan Phòng an bài cho họ ; họ sẽ chăm sóc cho những kẻ đau yếu như là dấu chỉ của lòng thương xót Chúa; nơi nào họ bị khước từ, thì đi nơi khác, chỉ cần cảnh báo nơi đó về trách nhiệm khước từ Nước Thiên Chúa. Thánh sử Luca làm nổi bật lòng hăng say của các môn đệ vì những kết quả tốt của sứ mạng, và ghi lại lời nói đẹp sau đây của Chúa Giêsu : “Các con chớ vui mừng vì các thần phải vâng phục các con, nhưng hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên trời” (Lc 10,20).

Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới, con người đang tìm kiếm sự sung túc, dễ dàng, công danh sự nghiệp và thành công như mục đích của cuộc sống, gây thiệt hại cho các giá trị luân lý, sống xa rời Sứ điệp Tin Mừng, và sống như thể không có Thiên Chúa.

Trang Tin Mừng trên đây khơi dậy nơi chúng ta, những người đã lãnh nhận bí tích Rửa tội ý thức làm nhà thừa sai của Chúa Kitô, những kẻ được gọi để chuẩn bị đường cho Chúa, bằng lời nói và bằng chứng tá đời sống. Vì Thánh Phêrô nói : “Tin mừng không phải là một thiện ích dành riêng cho người lãnh nhận, nhưng là một hồng ân cần phải được chia sẻ, một tin vui cần phải thông truyền. Hồng ân – Nghĩa vụ này được ủy thác không phải chỉ cho vài người, nhưng cho tất cả các tín hữu đã chịu phép rửa…” (1 Pr 2,9).

Vì vậy không lạ gì khi Công đồng Vaticanô II và Huấn quyền của Hội Thánh luôn nhấn mạnh cách đặc biệt về nhiệm vụ truyền giáo mà Đức Kitô đã uỷ thác cho các môn đệ của Người, và là nhiệm vụ mà toàn thể Dân Thiên Chúa: các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ và giáo dân phải dấn thân thực hiện. Hội Thánh phải cảm thấy lệnh truyền rao giảng Tin Mừng của Chúa chất vấn mình mãnh liệt, để Đức Kitô được rao giảng khắp nơi.

Là những tín hữu trong Đức Kitô, chúng ta phải tiếp bước Thánh Phaolô Tông Đồ, là “tù nhân của Đức Kitô vì anh em, những người dân ngoại” (Ep 3, 1), ngài đã chịu đau khổ và chiến đấu để đem Tin Mừng đến giữa dân ngoại (x. Cl 1, 24-29), không ngại tiêu hao sức lực, thời giờ và của cải để loan báo Sứ điệp của Đức Kitô.

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Thông điệp Redemptoris Missio viết:“Chúng ta không thể ngồi yên khi nghĩ tới hàng triệu anh chị em chúng ta đang sống trong tình trạng không biết đến tình yêu của Thiên Chúa, chính họ cũng được cứu chuộc bằng máu Chúa Kitô” (số 86).

Khi công bố Năm Đức Tin, Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã viết rằng :“Đức Kitô hôm nay cũng như hồi ấy, sai chúng ta đi khắp các nẻo đường trên thế giới để loan báo Tin Mừng của Người cho mọi dân tộc trên mặt đất” (Tông Thư Porta Fidei, 7).

Hướng tới kỷ niệm 90 năm thành lập Ngày Thế Giới truyền Giáo vào chúa nhật 23 tháng 10 năm 2016 tới đây với chủ đề “Giáo Hội Truyền Giáo, Chứng Tá Của Lòng Thương Xót”, Đức Giáo hoàng Phanxicô đề cao vai trò của phụ nữ và các gia đình trong việc biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài khẳng định : “Khi đón nhận và theo Chúa Giêsu qua Tin Mừng và các bí tích, nhờ tác động của Chúa Thánh Linh, chúng ta có thể trở nên người có lòng thương xót như Cha chúng ta trên trời, học yêu thương như Chúa yêu thương chúng ta và biến cuộc sống chúng ta trở thành một món quà nhưng không, dấu chỉ lòng nhân lành của Ngài” (Misericordiae Vultus 3).

Chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần xuống tràn đầy trên việc loan báo Tin Mừng, đặc biệt trên những ai đang làm việc trên cánh đồng truyền giáo. Nguyện xin Mẹ Maria, Mẹ Hội Thánh, Ngôi Sao dẫn đường loan báo Tin Mừng đồng hành với tất cả các sứ giả của Tin Mừng. Amen.

Về mục lục

.

NIỀM VUI THÁNH ĐỨC

Trầm Thiên Thu

Càng thêm tuổi thì người ta càng “ngộ” ra nhiều điều. Người ta gọi đó là kinh nghiệm, nói theo bình dân là tình trạng “đụng chạm” – “đụng” nhiều thì “chạm” nhiều. Đơn giản mà chí lý!

Một trong những điều người ta “ngộ” ra là nhận thấy rằng cuộc đời có gì đó xem chừng “bất ổn” lắm: buồn nhiều, vui ít. Thảo nào Chúa Giêsu luôn nhắc nhở: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Mt 16:24; Mc 8:34 ; Lc 9:23).

Buồn nhiều thì chắc rồi , vì “đời là bể khổ” mà. Nhưng vui ít chứ không phải là không vui. Tuy nhiên, vấn đề là vui vì cái gì? Có nhiều dạng và nhiều mức độ vui. Niềm vui sẽ hóa nỗi buồn: Tiệc vui tan, rồi hóa kỷ niệm. Kỷ niệm chứ có thật đâu mà vui. Nhưng niềm vui của Kitô hữu là niềm vui cao thượng, người ta khả dĩ vui ngay trong nỗi gian nan, hoạn nạn. Tại sao vậy? Vì họ luôn tín thác vào Thiên Chúa – Đấng quan phòng và tiền định mọi sự. Đó là niềm vui, vui vì an tâm!

Trước tiên, ngôn sứ Isaia xác định: “Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ, hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô! Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng, hỡi tất cả những người đã than khóc Thành Đô, để được Thành Đô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ” (Is 66:10-11). Niềm vui như thế thật là tốt lành, vì niềm vui đó mang tinh thần tín thác vào Thiên Chúa, biết tín thác là cách sống khôn ngoan và khiêm nhường. Điều đó chắc chắn Thiên Chúa rất hài lòng.

Thiên Chúa hài lòng thì Ngài sẽ ban cho cuộc sống phong phú, dồi dào, thoải mái, đúng như Ngài đã hứa: “Này Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sông cả, và Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về” (Is 66:12-13). Điều gì Ngài đã hứa thì Ngài sẽ hoàn tất theo cách quan phòng và tiền định của Ngài.

Với cảm nhận bản thân, tác giả Thánh Vịnh chia sẻ thực tế tâm linh: “Nhìn thấy thế, lòng các bạn sẽ đầy hoan lạc, thân mình được tươi tốt như cỏ đồng xanh. Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết, và nổi cơn thịnh nộ với các kẻ thù” (Is 66:14). Có hai vế rõ ràng: ai thuận với Thiên Chúa thì hạnh phúc và vui sống, ai đối nghịch với Ngài thì thua thiệt.

Đó là hệ lụy tất yếu. Điều đó được minh chứng qua lời của tác giả Thánh Vịnh: “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh! Hãy thưa cùng Thiên Chúa: Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài! Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm. Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh” (Tv 66:1-4).

Hệ lụy đó còn được xác nhận thêm một cách hùng hồn: “Đến mà xem công trình của Thiên Chúa: hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ! Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền, và dân Người đi bộ qua sông; việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ. Chúa uy dũng hiển trị muôn đời; đôi mắt Người theo dõi chư dân, quân làm phản chớ có hòng nổi dậy!” (Tv 66:5-7). Chắc chắn chỉ có Thiên Chúa mới làm được những điều kỳ diệu như vậy. Điều này mặc nhiên rằng chẳng có bất cứ thần linh nào khác có thể làm được như vậy.

Vô tri bất mộ. Biết rồi thì tin, tin rồi thì yêu, không ai có thể trì hoãn cái sự sung sướng đó được, không thể im lặng, vì tình yêu luôn vị tha, nghĩa là người ta phải chia sẻ điều đó cho mọi người cùng biết và cùng hưởng niềm vui đó: “Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời, đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi” (Tv 66:16). Thiên Chúa là Đấng trung tín (2 Tx 3:3), luôn “giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2:4). Thật vậy, tác giả Thánh Vịnh dẫn chứng cụ thể: “Xin chúc tụng Thiên Chúa đã CHẲNG bác lời thỉnh nguyện tôi dâng, lại cũng KHÔNG dứt nghĩa đoạn tình” (Tv 66:20).

Cảm nghiệm niềm vui được biết Thiên Chúa, Đức-Kitô-chịu-đóng-đinh, Thánh Phaolô chia sẻ: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Gl 6:14). Loại ước mơ như thế thực sự “rất lạ”, hoàn toàn “khác người”, thậm chí là “ngược đời”. Nếu không có niềm tin sâu sắc thì không thể nào hiểu nổi loại ước mơ “độc đáo” của Thánh Phaolô.

Với niềm tin vào Đức Giêsu Kitô và với niềm vui trong Ngài, Thánh Phaolô xác nhận và chia sẻ: “Quả thật, cắt bì hay không cắt bì chẳng là gì cả, điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới. Chúc tất cả những ai sống theo quy tắc ấy, và chúc Ít-ra-en của Thiên Chúa được hưởng bình an và lòng thương xót của Người. Từ nay, xin đừng có ai gây phiền toái cho tôi nữa, vì tôi mang trên mình tôi những dấu tích của Đức Giêsu. Thưa anh em, nguyện xin Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho thần trí anh em được đầy tràn ân sủng” (Gl 6:15-18).

Trình thuật Lc 10:1-12 và 17-20 cho biết “bài sai” của Đức Giêsu dành cho bảy mươi hai môn đệ là “đi rao giảng Tin Mừng” nhưng với điều kiện là “không đòi hỏi thứ gì” từ người khác.

Chúa Giêsu bảo các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Ngài sẽ đến. Ngài nói rõ: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. ĐỪNG mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng ĐỪNG chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: ‘Bình an cho nhà này!’. Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. ĐỪNG đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em”.

Một loạt mệnh lệnh cách – bao gồm cả phủ định và xác định. Chúa Giêsu bảo họ KHÔNG ĐƯỢC ĐÒI HỎI bất cứ điều gì, có sao hưởng vậy. Có lẽ đây là một trong những câu “chói tai” mà người ta không muốn đề cập hoặc bị người khác nhắc nhở.

Tuy nhiên, chấp nhận hoặc bằng lòng với những gì mình có là một dạng hạnh phúc giản dị mà kỳ diệu, không chấp nhận những gì mình có hoặc đòi hỏi thì chỉ là tự làm khổ mình (và làm khổ người khác). Chấp nhận điều kiện sống hiện tại không là thúc thủ hoặc miễn cưỡng với số phận, nhưng chấp nhận với niềm lạc quan và tín thác vào Thiên Chúa để Thánh Ý Chúa được nên trọn (x. Mt 26:42; Lc 23:34).

Chấp nhận hiện tại, không đòi hỏi cho mình, nhưng biết sống vì người khác, giúp ích cho tha nhân. Thật vậy, Chúa Giêsu căn dặn: “Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: ‘Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông’. Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón thì anh em ra các quảng trường mà nói: ‘Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần’. Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó”.

Nhóm Bảy Mươi Hai ra đi và đạt được kết quả mỹ mãn. Khi trở về, họ hớn hở khoe Sư Phụ rằng họ đã rao giảng, ai cũng vui nghe đến danh Thầy, ngay cả ma quỷ cũng phải khuất phục họ. Nhưng Đức Giêsu nghiêm túc và thẳng thắn nói: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên, anh em CHỚ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng HÃY mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10:18-20).

Ngày nay chúng ta cũng vậy, làm được việc gì đó thì vội kiêu hãnh, tưởng mình “ngon” hơn người, chạy theo hư danh trần tục mà quên rằng mình chẳng là chi cả, chỉ là “đầy tớ vô dụng” mà thôi (x. Lc 17:10). Quả thật, không có Chúa Giêsu thì chẳng ai làm được điều gì (x. Ga 15:5). Vả lại, nếu có làm được gì thì đó là bổn phận và trách nhiệm phải làm thay cho người khác, vì sáng danh Thiên Chúa chứ không phải vì vinh danh mình. Thiết tưởng cũng cần nhớ lại gương của ngôn sứ Gioan Tẩy Giả: “Người phải NỔI BẬT lên, còn tôi phải LU MỜ đi” (Ga 3:30).

Đó là khiêm nhường (khiêm nhu, khiêm hạ, khiêm tốn). Khiêm nhường là loại niềm vui thánh đức. Thánh Phaolô vui mừng vì Thập Giá của Đức Giêsu Kitô. Chúa Giêsu bảo các môn đệ hãy vui mừng vì tên được ghi vô Sổ Trường Sinh chứ không phải vì làm được công to việc lớn gì cả. Những điều này không hề đối lập mà lại rất hợp lý.

Khiêm nhường trái ngược với kêu ngạo. Kinh Thánh xác nhận: “Kiêu hãnh đi liền với ô nhục, khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường” (Cn 11:2). Chúa Giêsu luôn muốn chúng ta biết quên mình vì người khác, nhưng đôi khi chúng ta lại thích làm ngược lại: muốn người khác hy sinh vì mình. Nhận xét của Napoléon thật đáng để chúng ta xét mình: “Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ KHÔNG phải vì tội ác của những kẻ xấu, mà là VÌ sự im lặng của những người tốt.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết mau mắn và vui mừng thi hành Ý Ngài dành cho con trong mọi hoàn cảnh. Xin cho con biết hết lòng tin tưởng vào Ngài, không bao giờ cậy dựa vào hiểu biết của con (Cn 3:5), để con có được niềm vui thánh đức nơi Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

NGUYÊN NHÂN CỦA NIỀM VUI KITÔ HỮU

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Không ai đón nhận mừng vui vì thất bại! Người ta vui mừng khi thành công, nhất là thành công trong các công việc đầy gian nan thử thách (cứ xem bóng đá hay bất cứ môn thể thao nào là tất biết: người người, từ cầu thủ đến cổ động viên, đều nhẩy mừng hân hoan sau mỗi bàn thắng vất vả). Chẳng lạ gì mà Nhóm Mười Hai, sau một chuyến hành trình truyền giáo đầy khó khăn, đã trở về hớn hở mừng vui vì: “Đến cả ma quỉ cũng phải khuất phục chúng con!” Công tác mà các ông đã chu toàn quả là cực kỳ khó khăn đối với từng cá nhân, khó như ‘chiên con đi vào giữa bầy sói’ – hình ảnh Đức Giê-su sử dụng. Đã thế trước đó, Người còn cho huấn dụ đòi các ông phải ra đi trong tình trạng thiếu thốn mọi phương tiện hỗ trợ, không chỉ vì miễn cưỡng nhưng có chủ đích rõ ràng… Thế mà các ông – những con người tầm thường lại đã hoàn thành công tác được trao cách xuất sắc; không mừng sao được!

Thế nhưng, phản ứng của Đức Giê-su trước điều này mới thật bất ngờ tới độ gây sốc: có vẻ như Người không tán đồng với niềm phấn khởi vì thành công rất đáng biểu dương đó. Người không chỉ khôn ngoan cảnh giác các ông rằng thành công có thể tiềm ẩn một cạm bẫy đầy nguy hiểm: “Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống…Anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em”, mà còn chỉ cho thấy niềm vui và tự hào chân thực của người môn đệ phải dựa trên một cơ sở khác. Câu xác quyết của Người về vấn đề này thật khó hiểu, chứa đựng nhiều uẩn khúc: “Nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời!” Thiết tưởng chúng ta cần dành chút thời giờ để tìm hiểu hậu ý Đức Giê-su muốn nói gì qua lời phát biểu lạ đời trên; bởi vì nếu hiểu được điều này ta mới có cơ may nghiệm ra điều gì đích thị là mục tiêu của những nỗ lực xây dựng niềm tin Ki-tô hữu hay sống Tin Mừng của chúng ta.

‘Cảnh giác khi thành công’… điều này đã được nhiều nhà hiền triết nhắc nhở; thành công có thể dẫn đến tự mãn, tự kiêu… và làm cho mờ mắt để không nhận ra, hoặc quên mất vai trò của Thiên Chúa trong đời sống mình; “Thầy đã ban cho anh em quyền năng”. Bình thường thì, nếu tránh được khuyết điểm này, thành công chân chính cũng rất đáng vui mừng chúc tụng lắm chứ! Không ai ngăn cấm diễn tả một niềm vui chính đáng, và hẳn Đức Giê-su cũng không! Thế nhưng hình như Người vừa nhắc tới một niềm vui còn quan trọng và lớn lao hơn cả thành công, điều mà rất thường khi các môn đệ (và cả chúng ta nữa) đã quên mất: “Vui vì tên anh em đã được ghi trên trời”. Niềm vui này có vẻ quá thụ động, chẳng có gì đáng tự hào, chẳng có gì là thành tích vẻ vang; đơn giản nó giống như niềm vui bỗng dưng trúng số vậy!

Đúng vậy, trong đời sống đạo hàng ngày, rất nhiều người chúng ta dễ dàng quên đi mất niềm vui đặc biệt này, nhất là những ai tỏ ra quá quan tâm tới phần rỗi linh hồn mình, người ta vẫn thường quan niệm: việc giữ đạo là một cuộc chiến đấu trường kỳ, đầy cam go thử thách; với ơn Chúa đỡ nâng, ta phải ra công chiến đấu sao cho có thể chiến thắng được ba thù. Ta mừng vui mỗi khi vượt thắng được một cơn cám đỗ, và rất đau buồn khi không may sa ngã vì yếu đuối; thế nhưng, có lẽ chính vì cuộc chiến thiêng liêng này được thực hiện với quá nhiều quyết tâm mà việc giữ đạo của ta trở thành một nỗi lo nhiều hơn là nỗi mừng.

Trong dịp mừng kim khánh khấn dòng, nhiều anh em đã nhắc khéo tôi là: phải đợi tới sau khi tắt thở, ta mới có thể yên tâm được rằng mình có bền đỗ hay không. Phải chăng họ có lý? Tuy nhiên qua câu gợi ý ấy, tôi thấy phảng phất đâu đó một mối lo, lo rằng mình không vững mạnh đủ để bền đỗ, rằng kiếp sống con người quá mỏng dòn. Theo lối suy nghĩ thông thường thì: mối lo sợ này rất là chính đáng và có nền tảng dựa trên kinh nghiệm hiện sinh hằng ngày; tuy nhiên đứng trước Tin Mừng thì hình như nó trở thành khập khiễng và hụt hẫng sao đó: đức tin Ki-tô hữu đâu có mục đích đặt tôi đối diện với một Thiên Chúa xét xử nghiêm minh, nhưng đối diện với một Giê-su Ki-tô đến không phải để luận phạt nhưng để cứu vớt (Ga 12:44-50). Đức Giê-su là người duy nhất đã mạc khải về một Thiên Chúa nhân ái và hay thương xót, Đấng tự ngàn xưa đã ghi tên tôi trong sổ hằng sống, trước cả khi tôi lập được công nghiệp.

Như vậy thì chỉ niềm tin vào Đức Ki-tô mới là gia tài quí giá nhất mà tôi cần lưu giữ, là niềm hy vọng vững vàng nhất mà tôi phải nuôi dưỡng, chứ đâu phải quyết tâm thủ đắc được các nhân đức hay đạt tới mức trọn lành qua dày công tu luyện. Trên con đường thiêng liêng của Tin Mừng, tôi không được phép đánh giá mức tiến bộ dựa trên các thành quả nhân đức hay thánh thiện mình đạt được. Mục tiêu đời sống tu sĩ của tôi đâu có phải là đạt tới chế ngự bản thân tới cấp độ thượng thừa có khả năng khuất phục được cả quỷ thần hay các dục vọng lăng loàn. Chính Tin Mừng dạy cho tôi biết: tự bản chất con người luôn là yếu đuối, nhưng chỉ cần đặt niềm tin tuyệt đối nơi Đức Ki-tô Giê-su để nhận biết Thiên Chúa xót thương và cứu độ, thế là tôi có thể bảo đảm ‘tên mình đã được ghi trên trời’. Mọi Ki-tô hữu đều biết rằng: chính khi cảm thấy thấp hèn và tội lỗi nhất, nhưng với lòng chân thành sám hối, họ nghiệm ra lòng Chúa xót thương là lớn hơn tất cả mọi sự, rằng tên mình đã bảo đảm được Đức Ki-tô ghi sâu trong trái tim nhân ái của Người, và như thế là phần rỗi linh hồn của họ chắc chắn được đảm bảo. Lúc đó, vâng chỉ lúc đó, họ mới nếm cảm được niềm vui thuần khiết, niềm vui chiến thắng, niềm vui mà Đức Giê-su vừa trang trọng nhắc nhở các môn đệ của mình: “Vui vì tên anh em đã được ghi trên trời”, niềm vui trọn vẹn nhất.

Phần tôi thì thế nào: tôi có thường xuyên cảm thấy niềm vui sâu xa nhất này trong thẳm sâu cõi lòng mình hay không? Phải chăng đón nhận Tin Mừng cứu độ mới thực sự là cứu cánh duy nhất của đời tôi? Phải chăng tôi vẫn coi được cứu rỗi là một ân huệ của Chúa, và tôi sẽ chỉ bảo đảm được nó trong niềm tin vào Đức Ki-tô Giê-su mà thôi?

Lạy Chúa, xin cất khỏi lòng con mối lo sợ âm ỷ do các yếu đuối và sa ngã hàng ngày tạo nên trong con; xin đổ đầy tâm hồn con niềm vui được lòng nhân ái Chúa ghi tên vào sổ hằng sống, bất chấp tất cả những giới hạn tội lỗi của bản thân. Trong đời sống thiêng liêng, con thà đánh mất tất cả các nhân đức đã dày công tu luyện trong nhiều năm tháng, nhưng xin Chúa giữ gìn con để không bao giờ… vâng, không khi nào đánh mất niềm tin vững chắc vào lòng Chúa xót thương sẽ cứu độ con. A-men.

Về mục lục

.

BÌNH AN – QUÀ TẶNG CỦA CÁC MÔN ĐỆ ĐỨC GIÊSU

Lm. Văn Hào

Bình an chính là ân ban của Thần Khí, là quà tặng ý nghĩa nhất mà Đức Giêsu đem đến cho các Tông Đồ trong ngày Phục sinh. Giáo hội hằng ngày vẫn dâng lên Chúa lời cầu nguyện xin ơn bình an mỗi khi cử hành Thánh lễ. Cả ba bài đọc Lời Chúa hôm nay cũng nói về sự bình an, là ân ban Thiên Chúa đem đến cho nhân loại trong thời kỳ thiên sai (bài đọc 1), là món quà mà Thánh Phaolô đã trải nghiệm cùng với Lòng Thương xót Chúa (bài đọc 2), và cũng là hành trang các Tông đồ đem theo trong hành trình truyền giáo (bài Tin mừng).

Ơn Bình an được ban tặng như thế nào?

Trong bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Isaia tiên báo rằng, ơn ‘thái bình’ được tuôn đổ xuống thành đô Giêrusalem tựa dòng sông cả (Is 66,10-14). Vị ngôn sứ phóng tầm nhìn về kỷ nguyên mới, lúc Đức Chúa Giavê thực hiện ơn cứu độ một cách sung mãn. “Này Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, được nâng niu trên đầu gối”. Đây là thời thiên sai, lúc Đức Chúa biểu dương quyền lực và tình thương của Ngài. Trong cái nhìn thần học, ơn bình an này không chỉ khép kín trong ý niệm về một thế giới im tiếng súng, vắng tiếng đạn, nhưng bình an mà Thiên Chúa ban tặng chính là đỉnh cao của ân phúc khi Thiên Chúa ra tay cứu độ dân Ngài. Cũng tương tự như thế, Thánh Phaolô cầu chúc cho cộng đoàn Galát được hưởng sự bình an và lòng thương xót Chúa. Ngài mang kinh nghiệm của chính bản thân để mời gọi cộng đoàn đón nhận ơn bình an này, đó là phải kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu trong mầu nhiệm Thập giá. “Nhờ Thập giá của Đức Giêsu, thế gian đã bị đóng đinh vào Thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian.Vì tôi mang trong mình dấu tích của Đức Giêsu”. Như vậy trong thời kỳ ân điển của Thần Khí, Đức Giêsu đấng bị đóng đinh đã sống lại, sẽ phủ lên thế giới này ngập tràn sự bình an, là quà tặng cao quý nhất mà Thiên Chúa đem đến nhờ Thánh Thần. Thánh Phaolô còn nói rõ hơn trong thư gửi giáo đoàn Rôma : “Hướng đi của Thần khí là sự sống và bình an (Rm 8,66).

Như thế, chúng ta phải hiểu ơn bình an mà phụng vụ hôm nay nói tới trong cái nhìn Kitô học. Đây là quà tặng gắn kết với mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh mà Thánh Phaolô nhắc đi nhắc lại khá nhiều lần. Sau khi Đức Giêsu sống lại, Ngài hiện ra với các tông đồ, cho thấy các dấu tích cuộc tử nạn nơi thân thể Ngài. Sau đó, Chúa thổi hơi tuôn đổ Thần khí và ban bình an cho các ông (Ga, 20,22; Mt 28,16-20).

Cũng vậy, trong bài Tin mừng hôm nay, Thánh Luca thuật lại việc Chúa Giêsu sai 72 môn đệ đi thực tập truyền giáo. Ngài dặn các ông: “Khi vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói : Bình an cho nhà này. Nếu ở đó có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy, bằng không thì bình an sẽ trở lại với anh em (Lc 10,5-6).

Như vậy, bình an trước hết là quà tặng đến từ Thiên Chúa và ơn bình an được ban xuống luôn kèm theo những điều kiện cần thiết.

Điều kiện để hưởng bình an

Sống trong một thế giới mà chiến tranh lúc nào cũng như sắp sửa xảy ra, người ta cảm thấy lo sợ. Vì thế, sau đệ nhị thế chiến, các quốc gia trên khắp thế giới phải ngồi lại để bàn thảo những phương thế cổ xúy cho hòa bình. Tổ chức Liên Hợp Quốc được hình thành từ đó và 6 quốc gia được bầu chọn làm “Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc”. Trong phiên họp đầu tiên, ông Krouchev, tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô đã sừng sỏ chỉ tay vào vị đại diện Tòa Thánh tại bàn hội nghị và sẵng giọng nói: “Giáo Hoàng của các ông có trong tay bao nhiêu sư đoàn, mà dám cho người đại diện đến đây để bàn về hòa bình với chúng tôi”.

Người ta vẫn thường nghĩ rằng, bình an là một món hàng có thể sắm bằng sức mạnh quân sự, mua bằng đô-la hay dầu hỏa. Nhưng đối với Đức Giêsu thì không phải vậy. Hòa bình hay bình an đích thực chỉ có được khi chúng ta biết sống theo hướng đi của Thần khí. Đó là Thần Khí của Chân lý, của Sự thật, không có gian dối hay lừa lọc, không có bạo lực hay giết chóc, không oán thù hay ghét ghen. Vì vậy, để huấn luyện các môn đệ, Ngài sai các ông đi thực tập truyền giáo với quà tặng bình an. Quà tặng này đi kèm theo điều kiện là ‘không mang theo túi tiền, bao bị hay giày dép…’, tức là sống tinh thần nghèo khó một cách triệt để. Chúng ta vẫn thường hát lên ‘Kinh hòa bình’, lời kinh của Thánh Phanxicô Assisi, sứ giả của bình an, và Ngài cũng là khuôn mẫu cho chúng ta về tinh thần nghèo khó phúc âm.

Kết luận

Khi Chúa Giêsu giáng sinh, các Thiên Thần ca hát vang trời: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Những người thiện tâm và hưởng nhận ơn bình an đầu tiên ấy chính là các mục đồng, những đứa trẻ chăn trâu ngoài đồng nghèo xơ nghèo xác, những con người thấp kém và bị quên lãng trong xã hội thời bấy giờ. Cũng vậy, Chúa sai các môn đệ đi truyền giáo để ban bình an, đồng thời Ngài đòi hỏi các ông phải sống thật thanh thoát trong tinh thần khó nghèo, cắt đứt mọi dính bén trần thế. Điều Chúa đòi hỏi cũng là thách đố đối với chúng ta hôm nay, khi đang sống giữa một thế giới duy vật, thượng tôn chủ nghĩa hưởng thụ và chạy theo của cải vật chất. Còn chúng ta, chúng ta chọn cuộc sống phú túc giàu sang hay chọn bình an mà Thiên Chúa ban tặng?

Về mục lục

.

CẨM NANG NHÀ TRUYỀN GIÁO

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai. Ngài cho các ông sống bên cạnh mình. Ngài trực tiếp huấn luyện bằng cách cho các ông được nghe những lời Ngài giảng, được xem những việc Ngài làm. Sau đó, Ngài sai các Tông đồ ra đi thực tập truyền giáo. Chúa Giêsu còn chọn thêm nhiều môn đệ nữa. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy 72 môn đệ được sai phái thêm sau chuyến sai đi Nhóm Mười Hai (Lc 9,1-6) vì “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Lc 10,2). Thánh Luca muốn nhấn mạnh rằng, không riêng gì các Tông đồ, mà tất cả mọi người đều được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng. Hai động từ “gọi, sai đi” diễn tả rõ rệt ơn gọi của các môn đệ. Trước khi các học trò lên đường, Chúa Giêsu căn dặn nhiều điều như là hành trang cần thiết cho sứ vụ tông đồ. M. Quesnel ví những lời đó như “một loại thủ bản, một cẩm nang cho một nhà truyền giáo hoàn hảo”1.

  1. Hành trang Tông đồ

Hành trang đi đường chỉ là: cây gậy, đôi dép, không mang hai áo. Ý nghĩa ở đây là những kẻ được sai đi phải là những con người thanh thoát, không cồng kềnh nặng nề với của cải vật chất để có thể luôn sẵn sàng lên đường ra đi cho sứ vụ.

Chuyến đi nào cũng cần đến những hành trang. Hành trang cồng kềnh bước đi sẽ chậm. Hành trang gọn nhẹ bước tới sẽ nhanh. Hàng trang càng được tinh giản chỉ còn lại những gì thiết yếu nhất thì bước chân cũng sẽ thanh thoát khai lối cho mùa sứ vụ.

Hành trang của những kẻ lên đường xem ra chẳng có gì. “Gậy và dép” như gợi lại buổi Xuất hành. Nhẹ nhàng quá! Bận vướng với của cải đất đai sản nghiệp đùm đề làm sao có đủ tự do để bứt ra mà dứt khoát lên đường?

Hành trang của những kẻ lên đường xem ra chẳng có gì. “Không bánh, không bị, không tiền, không hai áo”. Nghèo khó quá! Chả bù cho con người ngày nay luôn biết tích lũy lo xa, có của ăn chưa đủ, còn có của để dành nữa. Nhưng cái nghèo về tài sản lại cho thấy cái giàu về đức hạnh. Không lo chiếm hữu hoặc gắn bó với của cải vật chất, người Tông đồ trở nên thanh thản lên đường bất cứ lúc nào. Không bận vướng những thứ lỉnh kỉnh làm nặng bước đi hoặc làm chùn bước tới, người Tông đồ học sống tinh thần phó thác để chỉ biết đợi chờ tất cả nơi một mình Thiên Chúa.

Xem ra chẳng có gì. Mà thực ra lại có tất cả. Bởi hành trang đích thực của họ chính là Chúa, Đấng đã nên sản nghiệp cho những kẻ được sai đi 2.

Hành trang ấy còn có ý nghĩa đặc biệt nữa. Đó là các môn đệ được tham dự vào ba chức năng tư tế, tiên tri và vương đế của Chúa Giêsu. Cây gậy của vương đế, đôi dép của tiên tri, và tấm áo của tư tế.

– Cây gậy

Cây gậy trong tay biểu trưng cho sức mạnh của Thiên Chúa thông ban cho người thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Ra đi với niềm tin vào năng quyền của Thiên Chúa trao ban: công bố Tin mừng cứu độ của Đức Kitô, chữa lành và thánh hoá nhằm cải thiện đời sống, xua trừ ma quỷ hầu chế ngự và đẩy lui các thế lực sự dữ.

– Đôi dép

Đôi dép là hình ảnh luôn lên đường. Truyền giáo là ra đi. Đi để mang sứ điệp Tin mừng đến với muôn dân. Sứ vụ sai đi khởi phát từ Chúa Cha “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”.

 Tấm áo

Người ra đi mang áo là mặc lấy tâm tình Chúa Giêsu. Nhờ đó, các môn đệ làm cho cuộc đời mình trở nên của lễ hiến dâng hợp với hiến lễ Chúa Kitô.

Chúa Giêsu còn trao cho các môn đệ những quyền năng của Ngài: quyền rao giảng, quyền chữa bệnh, quyền trừ quỷ.

Với những hành trang như thế, Chúa Giêsu muốn tỏ cho thấy sự thành công trong hoạt động Tông đồ không do tài lực của con người nhưng là do quyền năng Thiên Chúa.

  1. Phương thức hoạt động Tông đồ

Sứ vụ loan báo Tin mừng không phải là việc của một cá nhân riêng lẻ, mà là việc của cộng đoàn, không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải liên đới và liên kết với nhiều người khác. Khi sai đi “từng hai người một”, Chúa Giêsu mong các môn đệ hợp tác và liên đới với nhau, khích lệ và bàn hỏi nhau khi gặp khó khăn “Hai người có giá trị hơn một, nếu họ ngã, người này đỡ người kia dậy” (Gv 4,9). Hai người làm việc chung, nâng đỡ nhau biểu lộ tình yêu thương nhau như một dấu chỉ đặc trưng của môn đệ của Chúa (x. Ga 13,35). Dấu chỉ này là một chứng từ sống động và lôi cuốn người khác.

Trong Công vụ Tông đồ, các nhà truyền giáo thường lên đường với nhau “từng hai người một”: Phêrô đi với Gioan (Cv 3,1; 4,13); Phaolô với Banabê (Cv 1 3,2); Giuđa và Sila (Cv 15,22)… Hoạt động Tông đồ luôn là tạo thành nhóm. Nếp sống huynh đệ là một bài giảng về tình yêu. Chứng tá về tính hiệp nhất khi gắn bó với Đấng đã sai mình, chứng tá về tình huynh đệ khi nhận ra mình được sai đi “từng hai người một”. Chứng tá Kitô hữu phải nhắm đến một hình thức cộng đoàn trong Giáo Hội. Cuộc sống yêu thương trong cộng đoàn vừa là dấu hiệu của người môn đệ Chúa Giêsu, vừa là lời rao giảng sống động, hùng hồn nhất về Tin Mừng.

Chúa Giêsu gọi các môn đệ và sai đi truyền giáo. Giáo hội tiếp nối sứ vụ được sai đi, đến với muôn dân. Ra đi là dấn thân đi đến gặp gỡ mọi người với tinh thần đơn sơ, từ bỏ và tự do, để loan báo tin vui và mang đến cho họ ơn cứu độ.

Như thế, Tông đồ là người lên đường chứ không phải xuống đường. Lên đường là một tinh thần nhạy cảm của Tin Mừng được thể hiện qua lối sống gắn bó với sứ vụ. Nhạy cảm với những thao thức của thời đại để tìm đổi mới tư duy, nâng cao tầm nhìn, nới rộng kiến thức, mong diễn đạt Tin Mừng sát với ngôn ngữ hiện tại. Nhạy cảm với nhu cầu của tha nhân bằng muôn ngàn cách thể hiện lòng nhân ái vốn là điểm sáng của giới luật yêu thương, đồng thời là dấu hiệu dễ nhận ra nhất của Tin Mừng cứu độ. Nhạy cảm với Giáo Hội để tìm hiệp nhất. Nhạy cảm với đồng nghiệp để tìm huynh đệ nâng đỡ cộng tác. Nhất là, nhạy cảm với Chúa để tìm thuộc về Ngài mỗi ngày một hơn. Và dọc dài sứ vụ, tư thế lên đường sẽ làm nên hình ảnh chứng nhân 3.

  1. Sứ vụ Tông đồ là sống chứng nhân

Trao “Sứ vụ” cho các môn đệ, Chúa Giêsu không bảo các ông “phải giảng điều gì”. Ngài chỉ căn dặn các ông những chi tiết “phải sống”. Đối với Chúa Giêsu, ra đi làm chứng tá bằng cuộc sống quan trọng hơn chứng tá bằng lời nói.

Trong Tông huấn “Loan báo Tin Mừng”, Đức Thánh Cha Phaolô VI quả quyết ít nhất hai lần rằng, phương thức thứ nhất để rao truyền Phúc Âm chính là làm chứng bằng một cuộc sống Kitô hữu đích thực (x. số 21 và 41).

Có ba cách làm chứng: nói, làm và sống. Hiệu năng nhất là cách thứ hai và thứ ba. Ai cũng biết nói thì dễ, làm khó hơn, và sống như mình nói lại càng khó hơn nữa. Chính việc làm và đời sống làm cho lời mình nói đáng tin hơn. Nhưng cả khi người ta chưa nói hay không thể nói, chưa làm hay không thể làm một số điều nào đó, thì người ta đã có thể sống điều mình xác tin và muốn chia sẻ.

Theo Đức Phaolô VI, làm chứng bằng cuộc sống, bằng hành động cụ thể là một cách rao giảng thầm lặng, không nghe được, nhưng thấy được và rất hữu hiệu, nhất là đối với con người thời nay vì hai lý do: một là vì thời nay (thời của khoa học thực nghiệm và của óc thực tiễn), người ta nhạy cảm với việc làm và dị ứng với lời nói và các học thuyết, hai là vì trong thế giới trần tục hoá ngày nay, như ở Việt Nam chẳng hạn, tôn giáo bị đẩy ra bên lề như chuyện riêng tư, thế nên không phải bất kỳ ở đâu và lúc nào người ta cũng có thể, hay nên trực tiếp rao giảng Tin Mừng. Năm 1937, Mahatma Gandhi, vị anh hùng dân tộc Ấn Độ nói với các nhà truyền giáo: “Hãy để cho đời sống các ngài nói với chúng tôi như đoá hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ đơn sơ để cho hương thơm của mình toả lan. Cả người mù không nhìn thấy hoa hồng vẫn nhận ra được mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của nhân dân của các ngài khi họ toả hương thơm đời sống. Đối với tôi, đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả những gì tôi muốn họ làm là sống đời Kitô hữu chứ không phải chú giải nó”.

Vậy để loan báo Tin Mừng thuyết phục, người Kitô hữu phải sống thế nào cho cuộc đời mình trở thành đáng tin. Đới sống đáng tin thì tự nhiên lời nói cũng đáng tin. Làm tông đồ, rao giảng Phúc Âm đặc biệt thích hợp cho ngày nay là làm cho đời sống Kitô hữu đáng tin. Như vậy toàn bộ cuộc sống ta đều phải “làm chứng”: lời ăn tiếng nói, cách cư xử, giao tiếp, trong gia đình, ngoài xã hội, khi làm việc, khi vui chơi giải trí… Đối với người có ý thức truyền giáo thì nhất nhất việc gì, khía cạnh nào của đời sống họ cũng có thể là lời loan báo. Lời trách nặng nề nhất của người chưa biết Chúa đối với tín hữu Công giáo có lẽ là: Người Công giáo các anh (các chị) không mấy đáng tin; các anh (các chị) nói một đường làm một nẻo. Đức tin, giáo lý nghe thì thật hay nhưng không thấy đem lại cho xã hội một cái gì thật sự tốt đẹp và mới mẻ. Lời phê bình đó có lẽ là quá đáng nhưng thiết tưởng ta chẳng cần cãi lý làm gì, hãy coi đó như một lời nhắc nhở để chúng ta nhìn lại cuộc sống “chứng tá” của mình. Xã hội này đang suy thoái trầm trọng về đạo đức: tham nhũng, thối nát, dối trá, bất công, xì ke ma túy, sa đoạ … Ta có còn là men, là muối, là ánh sáng nữa không?

  1. Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu,xin sai chúng con lên đường nhẹ nhàng và thanh thoát,không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào những phương tiện trần thế. Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm: rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ,chữa lành những người ốm đau. Xin cho chúng con biết nói Tin Mừng với niềm vui,như người tìm được viên ngọc…. quý,biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân. Xin ban cho chúng con khả năng đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa. Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ của bao người đau khổ thể xác tinh thần.

Lạy Chúa Giêsu,thế giới thật bao la mà vòng tay chúng con quá nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau mà tin tưởng lên đường, nhẹ nhàng và thanh thoát. Amen.(Mana).

____________________

1 “Comment lire un évangile?”, Seuil, trang 103.

2 “Với cả tâm tình”, trang 117-120, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống.

3 “Với cả tâm tình”, trang 121.

4 “Đạo trong đời”, trang 252-255, Lm Nguyễn Hồng Giáo.

Về mục lục

.

ĐIỀU KIỆN CẦN CỦA NGƯỜI THỪA SAI

Jos.Vinc. Ngọc Biển

Khi nói đến truyền giáo, Giáo Hội muốn chúng ta trở về căn gốc để hiểu và thấy được rằng: Đức Giêsu chính là nhà thừa sai đầu tiên được Chúa Cha sai xuống trần gian để loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân.

Khi đến trong thế giới con người, Đức Giêsu đã thi hành xuất sắc sứ vụ thừa sai mà Chúa Cha trao phó cho Ngài. Sứ vụ ấy không chỉ dừng lại nơi bản thân và cuộc đời của Đức Giêsu, nhưng nó được trao truyền cho những người tiếp bước. Khởi đi từ các Tông đồ, rồi đến các môn đệ và chúng ta, đồng thời sẽ còn được tiếp diễn mãi cho đến tận thế.

Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về vai trò, tinh thần, sứ mạng của người được sai cũng như những cách thức thực hiện sứ vụ thừa sai.

  1. Vai trò của nhà thừa sai

Bài đọc I cho chúng ta thấy vai trò thừa sai của tiên tri Isaia: ông loan báo cho dân về một giai đoạn tự do, không còn bị lệ thuộc trong thân phận nô lệ bên Babylon nữa. Bởi vì vua Ba Tư đã ký và cho phép dân Israel hồi hương, kết thúc giai đoạn lưu đày. Tuy nhiên, lòng dân vẫn chưa thấy bình an, nỗi lo vẫn còn đó…! Biết được sự trăn trở của dân, nên tiên tri Isaia đã trấn an họ bằng việc loan báo Chúa sẽ ban bình an và vinh quang cho Giêrusalem. Bổn phận của họ là kiên trì và tin tưởng vào Người để được no nê, sung sướng, bình an, được vỗ về, an ủi và nâng niu. Giống như người mẹ yêu thương con mình thế nào, Thiên Chúa cũng yêu thương dân của Người như vậy.

Sang Bài đọc II, Thánh Phaolô đã sống sứ vụ cốt lõi thừa sai của mình khi tập trung vào mầu nhiệm thập giá của Đức Kitô. 

Vì thế, ngài đã mạnh dạn tuyên bố niềm xác tín đó của mình khi nói: “Trong khi người Dothái đòi dấu lạ, và người Hylạp tìm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô đã bị đóng đinh vào thập giá, cớ vấp phạm cho người Dothái, sự điên rồ đối với người dân ngoại (Hylạp)” (1 Cr 1,22-23).

Không chỉ nói, mà cả cuộc đời của ngài diễn tả niềm vui vì được kết hợp với Đức Giêsu chịu đóng đinh: “Đối với tôi, không một vinh quang nào khác ngoài vinh quang thập giá Đức Kitô”.

Như vậy, vai trò thừa sai của thánh Phaolô chính là gắn bó mật thiết nơi mầu nhiệm thập giá Đức Kitô. 

  1. Tinh thần của nhà thừa sai

Sang bài Tin Mừng, sau khi đã gợi hứng cho các môn đệ về sứ vụ thừa sai qua hình ảnh cánh đồng lúa chín vàng, Đức Giêsu bắt đầu sai họ ra đi để thu hoạch.

Trước tiên, Ngài sai “từng hai người một” ra đi loan báo Tin Mừng. Khi sai các môn đệ đi từng hai người như thế, Đức Giêsu muốn cho các ông hiểu rằng: khi loan báo về Nước Trời, điều quan trọng là tính hiệp thông, hiệp nhất để cùng nhau sống và làm chứng cho sự thật.

Thứ đến, Đức Giêsu tiên báo cho các môn đệ thấy trước những khó khăn thử thách, những rào cản trên cuộc hành trình ấy: “Thầy sai các con đi như chiên con đi giữa bầy sói” (Lc 10,3). Ngài nói trước những khó khăn như vậy để cho các ông thấy rằng, trong khi loan báo về Nước Trời, không thiếu những kẻ không muốn vào mà lại còn tìm cách ngăn cản không cho những người khác vào. Cuộc sống và hành trình này không phải lúc nào cũng xuôi trèo mát mái, mà luôn gặp phải những bão táp cuồng phong.

Tiếp theo, tinh thần siêu thoát, nhẹ nhàng là hành trang của người môn đệ. Đức Giêsu không chấp nhận nhà thừa sai mang những thứ cồng kềnh. Bởi vì những thứ đó sẽ làm cho người thi hành sứ vụ sinh ra nặng nề và đôi khi bỏ cuộc chỉ vì những chuyện phụ thuộc như “củ hành, củ tỏi”.  Vì thế, Ngài nói:“Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép…”.  Người môn đệ phải sống nghèo thực sự. Có sống nghèo, các ngài mới có sự cảm thông, liên đới và chấp nhận tất cả vì sứ mạng. 

Hơn nữa, loan báo về Nước Trời là một sự cần kíp, cấp bách đến độ phải ưu tiên hàng đầu. Vì thế, Đức Giêsu căn dặn các ông rằng: “Đừng chào hỏi ai dọc đường”.Lý do, đây là mệnh lệnh khẩn trương, đòi hỏi người môn đệ phải nhanh nhẹn. Bởi vì, khi loan báo Tin Mừng, không được quan tâm đến những chuyện bên lề quá nhiều để rồi quên đi việc chính yếu.

Cuối cùng, là tinh thần kiên nhẫn. Phải chăng chính Đức Giêsu đã cảm nghiệm sâu sắc khi người dân quê của Ngài nhận định về mình: “Ông ấy chẳng phải là con bà Maria hay sao, cha ông ta lại không phải là bác thợ mộc…?” Rồi biết bao chống đối, ngờ vực, không tin, bị bắt bớ, đánh đòn… Nhân đây, Đức Giêsu muốn dạy cho các ông phải có tinh thần kiên trì, chịu đựng, không được nóng vội. 

Như vậy, qua bài Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Giêsu đã truyền lại cho các môn đệ tinh thần thừa sai của chính Ngài, để các ông ra đi thi hành sứ vụ theo Thiên Ý chứ không phải theo cách thế phàm trần.

  1. Sứ mạng thừa sai của mỗi chúng ta

Khi sai 72 môn đệ đi loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu muốn cho mỗi người chúng ta được tham dự vào sứ mạng ngôn sứ phổ quát của Ngài. Sứ mạng ấy được khởi đi từ lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Từ đó, chúng ta xác định căn tính truyền giáo thuộc về chúng ta. Bao lâu chúng ta không truyền giáo, thì bấy lâu ta đánh mất bản chất của mình. Bởi vì: “Khốn thân tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng” (1 Cr 9,16). Nỗi lòng thao thức của Đức Giêsu: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít…” phải là lời chất vấn lương tâm mỗi chúng ta.

Là Kitô hữu, chúng ta cùng đồng lòng và cảm nghiệm với Đức Giêsu trước những cánh đồng bao la đang độ chín vàng… Tham gia vào sứ mạng truyền giáo là chúng ta đang đóng góp cho Giáo Hội những viên gạch, hạt cát để xây nên tòa nhà Giáo Hội, nơi đó là niềm vui, hạnh phúc và bình an.  

Thiết nghĩ, trong cuộc sống của con người thời nay, niềm tin đang bị đánh cắp hay bị đặt sai chỗ bởi những chủ thuyết tương đối, dẫn đến tình trạng bình thường hoá mọi mặt, kể cả những giá trị đạo đức, những chân lý đức tin. Đứng trước thực trạng trên, chúng ta có bổn phận phải thực thi sứ vụ thừa sai của mình về Chúa cho anh chị em chúng ta.

Sứ vụ ấy được khởi đi từ trong gia đình: chồng làm chứng cho vợ, vợ làm chứng cho chồng, vợ chồng sống chung thủy. Cha mẹ nêu gương sáng cho con cái. Con cái hiếu nghĩa với cha mẹ. Bạn bè sống tốt với nhau trong môi trường, công ty, xí nghiệp. Hàng xóm láng giềng ăn ở hài hoà, sẵn sàng giúp đỡ nhau những lúc cần kíp…

Khi sống đời chứng tá bằng những giá trị Tin Mừng như thế, chúng ta sẽ gặp không ít những khó khăn, thử thách trong đời sống. Không thiếu gì những cám dỗ làm cho muối ra nhạt, ánh sáng bị lu mờ. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn luôn nhớ mình thuộc về Đức Kitô, có tránh nhiệm mang Ánh Sáng ấy soi sáng thiên hạ. 

Lạy Chúa Giêsu, còn biết bao nhiêu người chưa nhận biết Chúa, nhiều chiên lạc chưa được đưa về ràn. Xin Chúa ban cho mỗi người chúng con trở nên những thừa sai đích thực, luôn sẵn sàng, hăng say loan báo Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Chúa. Ước gì mọi người con của Chúa trên trần gian này đều được quy tụ thành một ràn chiên duy nhất, dưới sự lãnh đạo của Vị Mục Tử Tối Cao là chính Chúa. Amen. 

Về mục lục

.

HÃNH DIỆN VÌ THẬP GIÁ ĐỨC GIÊSU KITÔ

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Sứ mạng của ki-tô hữu hôm nay là rao giảng Đức Yêsu bị đóng đinh thập giá đã phục sinh, Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Khi nhận biết Đức Yêsu là Thiên Chúa nhập thể, người ta sẽ biết được Thiên Chúa yêu thương con người đến độ nào! Thập giá trở thành biểu tượng của Đấng chịu đóng đinh, và rao giảng về thập giá là rao giảng về tình yêu nhập thể.

Khám phá kho tàng qua thập giá Đức Yêsu

Một đời vất vả lam lũ rao giảng Tin Mừng, công trạng của Phaolô rất to lớn, nhưng Phaolô nói: “ước gì tôi không hãnh diện về điều gì khác ngoài thập giá Đức Yêsu, Chúa tôi”. Với người đánh giá mọi sự theo giá trị phàm trần, thập giá chỉ là một cây gỗ, có gì mà hãnh diện? Cái chết ô nhục trần trụi trên thập giá, có gì đáng tự hào? Phaolô hãnh diện vì thập giá, không phải vì đó là một cây gỗ, nhưng Ngài hãnh diện vì Con Người đã chết trên thập giá, Đức Yêsu- Đấng yêu thương con người đến chấp nhận cái “chết treo thập giá trần trụi ô nhục”.

“Đức Yêsu chết treo thập giá”, dạy Phaolô và con người của mọi thời đại rất nhiều bài học. Ai sống trên đời mà không ham sống lâu, không ham giầu sang, không ham được trọng vọng? Có nhiều người khi bị nghèo, không được trọng vọng, không quyền cao chức trọng, thì than thân trách phận, làm như thể cuộc đời họ không còn ý nghĩa gì nữa. Cái hiểu biết sai lầm này, làm chính đương sự không hạnh phúc, và cũng làm những người thân cũng như những người sống với họ, bị ảnh hưởng. Có biết bao gia đình tan hoang vì một trong hai vợ chồng đã có quan niệm sai lạc như vậy.

Hãnh diện vì thập giá Đức Yêsu, là hãnh diện vì mình chỉ là người trần nhưng được Thiên Chúa yêu thương vô cùng, vì Thiên Chúa nhập thể đã yêu con người đến chết trên thập giá. Con người đối với Thiên Chúa thật đáng quý biết bao. Nếu chính Thiên Chúa còn quý trọng con người đến độ chết cho con người, nghĩa là con người có giá trị thực sự trước Thiên Chúa, thì con người cũng phải biết yêu thương kính trọng nhau. Thập giá Đức Yêsu, là bằng chứng cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Hãnh diện vì thập giá, là hãnh diện vì mình được yêu, là hãnh diện vì mình nhận thức được chân lý, biết được giá trị đích thực của cuộc đời.

Rao giảng Nước Thiên Chúa trong mọi tình huống

Đức Yêsu đã sai gởi không chỉ nhóm 12, nhưng Ngài còn sai 72 môn đệ đi rao giảng về Nước Thiên Chúa nữa. Sứ điệp rao giảng là “Nước Thiên Chúa đến gần”. Qua cái chết và sống lại của Đức Yêsu, “nước Thiên Chúa” đã đến và đang đến.

Đâu là cách hành xử của người ra đi rao giảng Tin Mừng? Không mang theo túi tiền, không bị, không giày dép; không chào hỏi ai dọc đường! Người rao giảng Tin Mừng, chẳng có gì đáng giá ngoại trừ chính sứ điệp rao giảng. Người rao giảng Tin Mừng, chỉ lo lắng sao cho Tin Mừng được loan báo, và không bận tâm về những điều không cần thiết như lương thực, quần áo, giầy dép. Những việc chào hỏi dọc đường có thể làm người có sứ mạng quên mất công việc chính yếu của họ. Việc rao giảng Tin Mừng, quan trọng và khẩn thiết hơn tất cả những việc xã giao, chào hỏi. Những gì ngăn trở cho việc rao giảng, phải được bỏ đi.

Với những người được rao giảng, phải như thế nào? Với những người tiếp đón các ngài, các ngài chúc bình an và loan báo cho họ biết “Nước Thiên Chúa đến gần”; với những người không tiếp đón các ngài, các ngài giũ cả bụi chân lại nhưng vẫn loan báo “Nước Thiên Chúa đã đến gần”. Môn đệ của Đức Yêsu rao giảng tin mừng Nước Trời trong mọi trường hợp, lúc thuận lợi cũng như những lúc bất thuận lợi, lúc được đón nhận cũng như lúc bị từ chối.

“Nếu ở đó có ai đáng hưởng bình an…”. Bình an hệ tại thái độ nội tâm của con người, tuỳ thuộc thái độ của người đó có sẵn sàng đón nhận Tin Mừng của Thiên Chúa hay không. Phaolô và các tông đồ, khi đi rao giảng các Ngài bị bắt bớ tra tấn, nhưng các Ngài vẫn có sự bình an đích thực. Sự bình an mà Đức Yêsu hứa ban cho các môn đệ của Ngài, và thế gian không thể cướp đi được. Những yếu tố bên ngoài, ảnh hưởng đến con người, nhưng không thể làm một người “theo Chúa” mất bình an.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

  1. Khi nói về thập giá, điều gì gợi lên trong đầu bạn? Nói thật với lòng mình, bạn thấy “thập giá” có ích lợi gì không?
  2. Bình an là gì? Theo bạn, đâu là điều kiện để có bình an thực sự?
  3. Một ki-tô hữu có được trao sứ mạng rao giảng Tin Mừng không? Cung cách hành xử cho những người được sai đi loan báo tin mừng “Nước Thiên Chúa”, có áp dụng đối với các ki-tô hữu không? Tại sao?

Về mục lục

.

CON CHIÊN GIỮA SÓI RỪNG

Trần Bình An

Trong cuốn Through the Valley of the Kwai River (Ngang Qua Thung Lũng Sông Kwai), tác giả Ernest Gordon thuật lại một câu chuyện có thật, xảy ra tại một trại tù binh Nhật dọc bờ sông Kwai trong thế chiến II. Nhiều người trong chúng ta đã nghe nói về trại này trong cuốn phim Bridge Over the River Kwai (Cầu Sông Kwai). Nơi đây 12 ngàn tù binh đã chết vì bệnh tật và bị đối xử tàn tệ khi họ phải xây một tuyến đường xe lửa.

Đàn ông bị cưỡng bức lao động dưới cái nóng đôi khi lên đến 120 độ F (khoảng 49 độ C). Đầu trần, chân đất, họ vác từng thúng đá trên vai để xây cho xong toàn bộ tuyến đường. Họ chỉ mặc mỗi manh áo rách và nằm ngủ trên mặt đất không chăn chiếu.

Nhưng kẻ thù khủng khiếp nhất đối với họ không phải là lính Nhật hay cuộc sống gian khổ mà lại là chính họ. Theo lời kể của Gordon, vì quá sợ lính Nhật, nên các tù binh đã bị mắc chứng hoang tưởng. Họ lấy luật rừng cư xử với nhau. Họ trộm cắp của nhau, nghi ngờ nhau và chỉ điểm lẫn nhau. Bọn canh gác cười nhạo khi thấy những người lính da trắng từng kiêu hãnh biết bao giờ đây đang tiêu diệt lẫn nhau.

Thế rồi một điều khó tin đã xảy ra. Hai tù nhân nọ chia nhóm học hỏi Kinh Thánh cho các tù nhân khác. Qua việc học hỏi này, dần dà các tù nhân khám phá ra Chúa Giêsu là một người đang sống giữa họ.

Hơn nữa, họ còn khám phá được rằng Chúa Giêsu hiểu rõ hoàn cảnh của ho. Người cũng không có chỗ gối đầu vào bên đêm. Người cũng đói khát, trơ trụi. Người cũng bị phản bội, cũng nếm roi đòn trên lưng. Tất cả những gì về Chúa Giêsu–Người là gì, Người nói gì, Người làm gì–bắt đầu có ý nghĩa và trở nên sống động. Các tù nhân không còn cho rằng họ là nạn nhân của một tấn bi kịch độc ác nào đó. Họ không còn chỉ điểm. Họ không còn tiêu diệt lẫn nhau nữa. Sự thay đổi tâm hồn của họ được tỏ lộ không đâu rõ rệt cho bằng trong lời cầu nguyện.

 Họ bắt đầu cầu nguyện cho nhau nhiều hơn cho chính mình. Và nếu có cầu xin cho chính họ, thì họ chẳng xin cho được điều gì. Mà xin cho sức mạnh mới mẻ trong tâm hồn của họ được bộc lộ. Dần dà, cả trại đã được biến đổi, đến nỗi không phải chỉ đám lính Nhật mà cả các tù binh cũng phải ngạc nhiên. Một đêm nọ, sau khi gặp gỡ với nhóm học hỏi Kinh Thánh xong, Gordon khập khiễng bước về trại của mình. Đang lúc lần mò trong bóng đêm, ông bỗng nghe có tiếng nhiều người ca hát, có người dùng mảnh gỗ để gõ nhịp vào lon thiếc. Tiếng ca hát và tiếng gõ nhịp làm cho bóng đêm trở nên sống động. (Lm Mark Link, S.J. Sự biến đổi kỳ diệu)

Giữa địa ngục trần gian đoạ đầy, các tù nhân đã hạnh phúc tìm được sự bình an của Chúa qua Kinh Thánh, Lời Chúa và hồng ân Lòng Thương Xót. “Thầy để lại bình an cho các con; chính bình an của Thầy mà Thầy ban cho các con”(Ga 14, 27).  Trong Tin Mừng Chúa nhật hôm nay, thánh sử Luca thuật lại Đức Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, với hành trang bất khả ly thân là cầu nguyện, chiến đấu, phó thác và bình an.

Cầu nguyện 

“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người.” Hành trang quan trọng, thiết thực và và thiết yếu nhất của Tông đồ chính là cầu nguyện, để có thể can đảm, vững bền, mạnh mẽ chiến đấu với sự dữ, những thách đố, những gian truân trên đường rao giảng Tin Mừng. Vì cầu nguyện kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, nguồn mạch dồi dào sức sống.

Không cầu nguyện, không chạy đến Thiên Chúa phù trợ, mà kiêu căng, tự đắc, tự phụ, cậy vào sức mình, thì không sớm thì chầy sứ vụ rao giảng sẽ hoàn toàn thất bại trước các mưu ma chước quỷ.  “Ai ở trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.”(Ga 15, 5)

Chiến đấu 

Đức Giêsu phán cùng các môn đệ: “Các con hãy đi. Này Ta sai các con như con chiên ở giữa sói rừng.”Người không che giấu những khó khăn, thách thức, nguy hiểm đang rình rập, đón chờ, để các ông không bị bất ngờ, cần thấu đáo tình thế ngặt nghèo, đau khổ, trước khi quyết định thực hiện sứ vụ, như Người đã từng trải.

Cả cuộc đời Người đã liên tục chiến đấu với bản năng, với ham muốn, dục vọng, với cám dỗ háo danh, từ trước khi đi rao giảng, cho đến tận trên thập giá. Người chịu đói khát trong hoang mạc, chịu các tư tế, luật sĩ, Biệt phái hăm doạ, khước từ, xua đuổi, chịu khổ nạn và cuối cùng chịu chết nhục nhã trên núi Sọ, vâng theo Thánh Ý Thiên Chúa Cha, để cứu chuộc nhân loại khỏi sự chết.

Tiếp bước theo Người đi rao giảng, thánh Phaolô cũng phải miệt mài chiến đấu không ngừng. “Chính vì mục đích rao giảng ấy, mà tôi phải chiến đấu, nhờ sức lực của Người hoạt động mạnh mẽ trong tôi.” (Cl 1, 29)

Phó thác 

Ngoài cầu nguyện, chiến đấu, hành trang khác không phải tiền bạc, áo quần, vật dụng cá nhân, mà chính là lòng phó thác vào Chúa Quan Phòng. Đức Giêsu luôn kêu gọi ai muốn theo Người, hãy từ bỏ mình, trở nên khiêm hạ, từ tốn, nhẫn nại, thầm lặng. Không dựa vào bản thân với tài năng, trí lực, sức lực, năng lực để hoạt động, không kiêu căng, hãnh tiến, cũng chẳng tự cao tự đại khi dấn thân rao giảng, mà chỉ hoàn toàn phó thác, trông cậy vào Chúa mà thôi. “Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép, và đừng chào hỏi ai dọc đường.” Luôn tận tâm tận lực, luôn ưu tiên cho sứ vụ, bỏ qua những lề lối nghi thức rườm rà, phức tạp, làm chậm trễ hay vướng víu trên đường hành đạo. 

Thánh Phaolô cũng đã xác nhận lại mục đích Đi Gieo không phải tìm kiếm tiền của, mà nhiệm vụ là tìm đưa các chiên về một đàn duy nhất. “Tôi sẽ không phiền luỵ anh em đâu, bởi vì điều tôi tìm kiếm không phải là của cải của anh em, mà là chính anh em.” (2Cr 12, 14)

Bình an 

Người Tông đồ có một món quà tuyệt hảo đễ trao tặng cho tha nhân chính là bình an. “Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: ‘Bình an cho nhà này.” Thắm thiết giao hoà với Thiên Chúa, yêu thương tha nhân và sống hài hoà với vạn vật, người Tông đồ mới được Chúa thương ban bình an, từ nội tâm ra đến bên ngoài.

Bởi vì bình an là một thuộc tính nổi bật của Nước Trời. “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. Ai phục vụ Đức Kitô như thế, thì đẹp lòng Thiên Chúa và được người ta quý trọng. Vậy chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại bình an và những gì xây dựng cho nhau. (Rm 14, 17-19)

Yêu mến Chúa chính là từ bỏ sự dữ, tội lỗi, từ bỏ mình, khước từ thế gian, chân thành đón nhận Chúa làm gia nghiệp cuộc đời, đồng thời kết hiệp mật thiết với Chúa trong bình an thanh thoát. “Thiên Chúa là tình yêu. Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy.” (1Ga 4, 16) Đồng thời “Thiên Chúa là nguồn bình an.”( Rm 16, 20).

Để long trọng tiếp đón Chúa, người Tông đồ luôn dấn thân vác thập giá theo chân Người. Đó là chứng tích hùng hồn và vẻ vang của người Kitô hữu. “Tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Ðức Giêsu Kitô.” (Gl 6, 14)

“Thứ nhất cầu nguyện, thứ hai hy sinh, thứ ba mới đến hoạt động.” (Đường Hy Vọng, số 119)

Lạy Chúa Giêsu, xin thức tỉnh chúng con thoát khỏi chính bản thân nặng nề, tham, sân, si, khỏi cám dỗ thiên la địa võng, khỏi thế gian hào nhoáng ảo ảnh, để chúng con được tự do đi theo Chúa đi gieo Tin Mừng, chỉ mang theo hành trang cầu nguyện, chiến đấu, phó thác và bình an mà thôi.

Khấn xin Mẹ cầu bầu, cứu giúp chúng con khỏi mọi sự ngăn cản chúng con đi theo Chúa, thành tâm noi gương Mẹ suốt đời đồng hành với Con Mẹ. Amen.

Về mục lục

.

CẦU NGUYỆN CHO VIỆC TRUYỀN GIÁO

Lm. Anthony Trung Thành

Chúa Giêsu là sứ giả Tin mừng đầu tiên. Ngài nhận lãnh sứ mạng đó từ Thiên Chúa Cha. Để tiếp tục công việc của mình, Ngài đã chọn nhóm Mười Hai mà chúng ta gọi là Tông đồ. Sau đó, Ngài còn gọi thêm 72 môn đệ như Tin mừng hôm nay kể lại. Ngoài ra, trong cuộc hành trình truyền giáo, còn có rất nhiều người đi theo để giúp Chúa và các Tông đồ, họ đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Kitô và các môn đệ (x. Lc 8,2-3).

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã nói: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Đó là mệnh lệnh, không ai được miễn trừ. Nhưng đã có một thời người ta quan niệm rằng, truyền giáo là công việc của Đức Giáo Hoàng, các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ…Đó là một quan niệm hết sức sai lầm. Truyền giáo là bổn phận không chỉ của Đức Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh mục, Tu sĩ mà còn là bổn phận của tất cả mọi người giáo dân. Nghĩa là bổn phận của tất cả những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Vì thế, tuỳ địa vị, tuỳ khả năng, tuỳ hoàn cảnh…Các kitô hữu cần phải ra sức chu toàn lệnh truyền này của Chúa Giêsu. Nếu ai lơ là, hay khinh dễ mà không chu toàn thì phạm tội thiếu sót. Thánh Phaolô đã từng nói: “Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Vô phúc cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng!”(1Cr 9,16).

Tâm tình của Thánh Phaolô cũng phải là tâm tình của mỗi người chúng ta hôm nay. Nhưng phải truyền giáo bằng cách nào? Chúng ta có thể truyền giáo bằng nhiều cách khác nhau: bằng việc rao giảng, bằng việc thăm viếng, bằng chứng tá đời sống…Nhưng trước hết và trên hết, chúng ta phải cầu nguyện cho công việc truyền giáo. Đây là việc quan trọng hàng đầu. Vì khi nhìn thấy đồng lúa chín bao la mà thiếu thợ gặt, Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ cầu nguyện: “Anh em hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến” (Lc 10, 2). Lệnh truyền này nằm trong bối cảnh Chúa Giêsu đang huấn luyện cho các thợ gặt đầu tiên. Lúc đó, số lượng thợ gặt được Chúa huấn luyện rất ít ỏi: Mười Hai Tông đồ; Bảy Mươi Hai Môn đệ và một số cộng tác viên khác.

Còn hiện nay thì sao? Theo niên giám toà thánh năm 2013: Giáo hội Công giáo có trên 1.253.000.000 tín hữu; 5.173 giám mục; 415.348 linh mục; 55.253 nam tu sĩ; 693.575 nữ tu; 118.251 chủng sinh. Như vậy, đã gần 2000 năm qua, cánh đồng truyền giáo vẫn đang còn bát ngát mênh mông, vẫn đang còn thiếu nhiều thợ gặt. Người Công giáo mới chiếm koảng 17.7% dân số thế giới. Vì vậy, lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Anh em hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến” (Lc 10, 2) vẫn đang còn mang tính cấp bách và thời sự. Cho nên, chúng ta cần phải tiếp tục cầu nguyện cho việc truyền giáo.

Thứ nhất, cầu nguyện cho có nhiều thợ gặt: thợ gặt ở đây có thể là Giám mục, Linh muc, Tu sĩ và cũng có thể là người giáo dân, tức là những người dám xã thân trong công việc loan báo Tin mừng. Đó là những: “Trái tim quảng đại biết cảm thương những cảnh đời bơ vơ không người chăn dắt, những tâm hồn thiện chí hăng hái dấn thân ra đi loan báo Tin mừng”(Thư chung HĐGMVN 2003, số 10). Đó là những bạn trẻ tự nguyện hiến thân mình trong ơn gọi tu sĩ và linh mục để phụng sự Chúa và phục vụ Giáo hội.

Thứ hai, cầu nguyện cho những “nhà truyền giáo” để họ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc loan báo Tin mừng. Đặc biệt là những người đang có sứ mệnh loan báo Tin mừng tại các vùng sâu vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số, tại các nước mà đạo Chúa đang bị cấm cách và bách hại…Họ cần sự trợ giúp không chỉ bằng vật chất mà còn cần sự nâng đỡ của chúng ta trong lời cầu nguyện. 

Thứ ba, cầu nguyện cho những người kitô hữu luôn sống xứng đáng với danh nghĩa của mình. Số tín hữu của Giáo Hội Công giáo hiện nay trên thế giới là 1.253.000.000 người. Số tín hữu Công giáo Việt Nam có trên 6.606.495 người. Giáo xứ chúng ta có 8.600 người. Nhưng thử hỏi trong số đó, được bao nhiêu người là kitô hữu đúng nghĩa? Thực tế cho chúng ta thấy, vẫn còn nhiều người mang danh kitô hữu nhưng không sống giáo lý của Đức Kitô, không giữ luật Chúa và Giáo hội, không đi lễ và lãnh nhận các Bí tích, vẫn rối vợ rối chồng, vẫn buôn gian bán lận, vẫn lỗi đức công bằng bác ái yêu thương, vẫn hằn thù ghen ghét, chém giết lẫn nhau…Vì thế, mọi kitô hữu phải biết cầu nguyện cho nhau để trở  thành những kitô hữu đích thực.

Thứ tư, cầu nguyện cho những người không phải là kitô hữu: có thể họ là những người làng xóm láng giềng, đang ở bên cạnh chúng ta; có thể họ là bạn bè của chúng ta; có thể họ là những người chúng ta gặp gỡ tiếp xúc hằng ngày; có thể họ là những người theo các đạo khác: Phật giáo, Khổng giáo, Hoà hảo…Thậm chí họ là những người vô thần, những người chúng ta không quen biết; có thể họ là những người đã biết về đạo, biết về giáo lý của Đức Kitô, nhưng họ không trở lại đạo vì một gương xấu gương mù nào đó của người công giáo hoặc họ chưa có cơ hội để gia nhập đạo Chúa.

Chúng ta hãy cầu nguyện cho họ, để họ có cơ hội trở thành người kitô hữu, là con cái của Chúa.

Thứ năm, cầu nguyện đặc biệt cho những người tội lỗi: có thể họ là thành viên trong gia đình, hội đoàn, giáo xứ, Giáo hội. Có thể họ là người chồng, người cha, người mẹ, người vợ, con cái…Chúng ta hãy cầu nguyện để họ biết ăn năn thống hối tội lỗi của mình mà trở về với Chúa. Vì cầu nguyện có sức biến đổi người tội lỗi trở thành thánh nhân. Thánh Augustinô đã được ơn trở lại nhờ lời cầu nguyện của Thánh Mônca. Tử tội Pranzini đã tỏ dấu ăn năn trước khi lên đoạn đầu đài nhờ lời cầu nguyện của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu.

Thứ sáu, cầu nguyện cho chính chúng ta biết siêng năng cầu nguyện: cầu nguyện chung; cầu nguyện riêng; cầu nguyện trong gia đình; cầu nguyện ở nhà thờ; cầu nguyện mọi nơi mọi lúc nhất là khi thi hành công việc loan báo Tin mừng. Chính Mẹ Têrêxa đã cho biết, bí quyết thành công trong công việc của mẹ là cầu nguyện. Cầu nguyện như việc nạp bình, hoạt động là việc thắp sáng.

Lạy Chúa là Cha đầy tình yêu thương, để tiếp tục sứ mạng truyền giáo mà Con Cha giao phó, xin Cha sai đến cánh đồng truyền giáo thêm nhiều thợ gặt lành nghề. Xin cho mỗi người chúng con nhiệt tâm hơn trong việc loan báo Tin mừng. Đặc biệt, xin cho chúng con luôn siêng năng cầu nguyện và cầu nguyện nhiều cho công cuộc truyền giáo. Amen.

Về mục lục

.

BÌNH AN, HÀNH TRANG CỦA NGƯỜI TRUYỀN GIÁO

Dã Quỳ 

Sống giữa thế giới đầy bất an, con người ý thức sự bình an cần thiết và là nhu cầu sống còn. Vì vậy, người ta đã đi tìm bình an trong nhiều phương thế khác nhau. Thánh Luca tường thuật Chúa Giêsu đã sai các môn đệ ra đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Người đã dặn dò môn đệ đừng mang nhiều thứ. Thế nhưng, có một thứ mà người môn đệ cần và phải có, đó là sự Bình An. Sứ mệnh loan báo Tin Mừng Bình An không là quyền của một cá nhân, nhưng là trách nhiệm của tất cả chúng ta, những Kitô hữu theo Chúa. Như đã sai các môn đệ, hôm nay Chúa cũng vẫn tiếp tục sai chúng ta đi vào cánh đồng lúa mênh mông mà rất ít thợ gặt. Vậy chúng ta cần phải làm gì?

 

Hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.” Chúa Giêsu thấy cánh đồng truyền giáo rộng lớn trải dài đến tận cùng trái đất. Chúa cũng thấy tình trạng thiếu sứ giả Tin Mừng sẵn sàng ra đi. Thế nên Chúa đã nhắn nhủ môn đệ ” Hãy xin chủ mùa gặt.” Vì biết rằng chính Thiên Chúa là chủ mùa gặt. Cầu xin Thiên Chúa ban cho có nhiều thợ, bởi ơn gọi truyền giáo là một ân huệ, là món quà của Thiên Chúa. Chính thánh Phaolô đã khẳng định về ơn này “Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa.“(1Cr 15,10) Nhờ ơn Chúa mà người Kitô hữu được chọn gọi, được sai đi loan báo Tin Mừng và tất cả những gì chúng ta làm được cũng là nhờ ơn Chúa. Vì thế, việc đầu tiên ta cần làm đó là cầu nguyện cho có nhiều ơn gọi và ta cũng sẵn sàng đáp lại lời Chúa mời gọi để ra đi.

 

Anh em hãy ra đi, này Thầy sai anh em đi  như chiên con vào giữa bầy sói.” Chúa Giêsu không chỉ sai các tông đồ ra đi,  nhưng Người còn sai tất cả các môn đệ đi loan báo Tin Mừng. Việc rao giảng Tin Mừng là việc của cả Giáo Hội và cần được liên kết với nhau.  Chúa biết môi trường trần gian như hang sói rừng, nhưng Chúa lại muốn chúng ta- những sứ giả Tin Mừng sống “bất bạo động”. Chúng ta được Chúa sai đi là chiên ở giữa bầy sói nhưng lại “không phòng thủ”. Vì sứ mệnh của người truyền giáo là công bố Nước Thiên Chúa ngang qua chính đời sống. Sức mạnh của chúng ta ở nơi Thiên Chúa. Chúng ta tự do ra đi mà không sợ hãi vì luôn có Chúa Giêsu ở cùng. Người bước đi cùng ta trên mọi nẻo đường, sẻ chia với ta bao nỗi sướng vui, sầu khổ của sứ vụ. Vì vậy Chúa muốn chúng ta nhẹ nhàng trong hành trình.
 

Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép...” để ta thanh thoát chỉ một lòng lo loan báo Tin Mừng. Với chỉ thị này, Chúa muốn người môn đệ truyền giáo sống nghèo, không cậy dựa vào những phương tiện của con người, không gắn bó với giá trị trần thế. Vì mục đích cuối cùng của chúng ta không ở trên mặt đất này, vậy tại sao ta lại bận tâm đến sự bảo đảm của trần gian? Dẫu biết rằng ta cần phương tiện, nhưng có bao nhiêu phương tiện thì chúng ta cho là đủ? Phương tiện vật chất chỉ có giá trị tương đối. Chính vì vậy, chúng ta hãy phó thác vào quyền năng và ân sủng vô biên của Chúa, Người sẽ trợ giúp ta để việc truyền giáo thực sự mang đến Tin Mừng bình an cho muôn dân.

 

” Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình an cho nhà này!” Loan báo Tin Mừng là đem bình an đến cho mọi người. Người môn đệ truyền giáo phải mang trong mình sự bình an của Chúa. Vì người có bình an nội tâm thì sẽ hiền lành và lan tỏa bình an đến người khác. Sự bình an tỏa ra trong thái độ sống chan hòa với những người chung quanh, bằng cuộc sống bác ái, yêu thương, phục vụ để làm chứng rằng “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.” Như lời của Mahatma Gandhi, vị lãnh tụ Ấn Độ đã nói với các nhà truyền giáo: “Hãy để cho đời sống của các ngài nói với chúng tôi như đóa hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ cần đơn sơ để cho hương thơm lan tỏa. Cả người mù không xem thấy hoa hồng, vẫn nhận ra mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của người Kitô hữu khi họ tỏa hương thơm đời sống.” Vậy sự bình an và tình yêu  của chúng ta phải được lãnh nhận từ Chúa Giêsu qua đời sống cầu nguyện. Tương quan giữa ta và Chúa thân mật, tốt đẹp, ta cũng sẽ xử sự tốt với anh em, làm những điều tốt, an ủi, chữa lành và đem bình an thực sự đến cho anh chị em ta.

 

” Hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.” Giá trị của người môn đệ và mỗi Kitô hữu chúng ta không phải do việc nọ việc kia ta làm, nhưng là ta được thuộc về Chúa và được ghi danh vào Nước Trời. Đó là giá trị vĩnh cửu khiến chúng ta không làm gì để vinh danh cá nhân mình, nhưng là tất cả cho vinh danh Chúa. Dẫu rằng ta có thể vui về những thành công, nhưng trước hết hãy làm để vui lòng Chúa, vì ta chỉ là dụng cụ bé nhỏ trong bàn tay Chúa. Chúng ta xác tín rằng Chúa thấy hết những gì ta làm và Chúa cùng làm với ta. Bởi vì chính Chúa ban cho ta sức mạnh, quyền năng, tình yêu, bình an…Vì nếu không có Chúa và ân sủng Người trợ giúp, tất cả những gì ta làm chỉ đơn giản như những hoạt động từ thiện và xã hội. Vậy chúng ta hãy vui mừng vì ta được tham dự vào Nước Thiên Chúa, được tuyển chọn và được cứu độ.

 

Cuộc đời mỗi người Linh mục, Tu sĩ hay Kitô hữu, chúng ta đều được mời gọi trở nên môn đệ và mang sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Chúng ta hãy sẵn sàng phục vụ Chúa và Giáo Hội trong những môi trường ta đang sống và hãy sẵn sàng ra đi đến bất cứ nơi nào mà Chúa và Giáo Hội cần. Đức Thánh Cha Phanxicô cũng kêu gọi Linh Mục và cả chúng ta nữa “Hãy dấn thân phục vụ người nghèo, sẵn sàng ra đi để đến với mọi người đang sống bên vùng ngoại vi, bên lề xã hội, đem cho họ tình thương của Thiên Chúa và niềm vui Tin Mừng.

 

Cánh đồng truyền giáo rộng lớn bát ngát mà thiếu thợ gặt. Chúa cần chúng ta trở nên những thợ nhiệt tâm, là hiện thân của Chúa. Biết cầu nguyện và biết sẵn sàng ra đi, đem đến nơi ta hiện diện những tương quan thân ái, lời nói yêu thương mang lại bình an. Biết rao giảng Tin Mừng, nói về Chúa và tình yêu của Người, thể hiện tình yêu và sự cứu độ qua cử chỉ bác ái sẻ chia, cùng với lòng tôn trọng chân giá trị của con người. Có như thế, chúng ta mới công bố cho thế giới, cho nhân loại hôm nay chứng tá xác thực về một Thiên Chúa vẫn đang hiện diện và hoạt động; về Chúa Kitô – Đấng là Tình yêu, Bình an và Hạnh phúc đích thực của con người.

 

Lạy Thiên Chúa Cha là chủ mùa gặt, xin ban cho chúng con thêm nhiều thợ gặt nhiệt thành. Lạy Chúa Giêsu, xin sai chúng con và đồng hành với chúng con trong từng nơi chúng con đến, đế ở đó luôn tràn ngập bình an, chan hòa tình yêu và mọi người nhận biết tin yêu Chúa. Lạy Chúa Thánh Thần, xin thánh hóa và biến đổi từng người chúng con. Amen.

Về mục lục

.

LOAN BÁO TIN MỪNG LÀ SỐNG CHỨNG NHÂN

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Lc 10,1-12.17-20

(1) Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. (2) Người bảo các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. (3) Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. (4) Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. (5) Vào bất cứ nhà nào, thì trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này!” (6) Nếu ở đó có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy. Bằng không, thì bình an đó sẽ quay về với anh em. (7) Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. (8) Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. (9) Hãy chữa những người đau yếu trong thành và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”. (10) Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên, các ông phải biết điều này: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”. (12) Thầy nói cho anh em hay: Trong ngày ấy, thành Xơ-đom còn được xử khoan hồng hơn thành đó”. (17) Nhóm Bảy Mươi Hai trở về hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến Danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con”. (18) Đức Giêsu bảo các ông: “Thầy đã thấy Xatan như một tia chớp từ trời sa xuống. (19) Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bò cạp và mọi thế lực kẻ thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. (20) Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em. Nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”.

  1. Ý CHÍNH:

Đức Giêsu chỉ định bảy mươi hai người làm môn đệ và sai họ từng hai người đi thực tập truyền giáo. Các ông làm theo lời Thầy dạy và đã đạt được kết quả mỹ mãn. Đó là ma quỷ đã phải khuất phục trước các ông.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 1-2: + Chúa chỉ định bảy mươi hai ngườiSố bảy mươi hai ở đây ám chỉ dân ngoại. Có hai truyền thống về con số này: Truyền thống Do thái (Hípri) ghi bảy mươi, đang khi truyền thống Hy-lạp lại ghi bảy mươi hai. Luca ghi theo truyền thống Hy-lạp. Sai các ông cứ từng hai người một đi trướcĐi hai người để dễ dàng trợ giúp cho nhau (x. Gv 4,-12). Thời Giáo hội sơ khai, các Tông đồ đã đi truyền giáo từng hai người: Bácnaba đi với Saolô (x. Cv 13,2); Giuđa đi với Xila (x. Cv 15,27); Bácnaba đi với Máccô; Phaolô với Bácnaba (x. Cv 15,35); Timôthê với Êráttô (x. Cv 19,22). Phân biệt hai chức vụ Tông đồ và Môn đệMÔN ĐỆ là những người nhận Đức Giêsu làm Thầy và đi theo để nghe Người giảng và sống theo Lời Người. Có bảy mươi hoặc bảy mươi hai môn đệ. Các ông cũng được Đức Giêsu sai đi trước đến những nơi mà chính Người sẽ tới (x. Lc 10,1). Khi Đức Giêsu rao giảng ở đâu, các môn đệ tụ tập đến nghe, rồi sau đó lại trở về với gia đình vợ con của mình. Còn TÔNG ĐỒ là 12 người được Đức Giêsu chọn trong số 72 môn đệ (x. Lc 6,13). Và cũng được sai đi rao giảng Tin mừng (x. Lc 9,2). Các ông phải bỏ mọi sự mà đi theo Đức Giêsu (Lc 18,28). Các ông được chứng kiến các phép lạ Người làm (x. Lc 7,11); Được tham dự bữa Tiệc ly (x. Mt 26,26-29); Cùng trải qua biến cố Tử Nạn và Phục Sinh với Người (x. Lc 24,36-43); Được Người trao quyền cầm buộc và tháo cởi (x. Mt 16,19), quyền chăn chiên (x. Ga 21,15-17); Sẽ được đồng bàn trong Vương quốc với Người, và được ngồi trên 12 tòa mà xét xử 12 chi tộc Ít-ra-en (x. Lc 22,30); Cuối cùng các ông còn được sai đi làm chứng nhân cho Đức Giêsu đến tận cùng thế giới (x. Mt 28,19; Cv 1,8). Lúa chín đầy đồngCác Ngôn sứ trong Cựu ước đã từng miêu tả ngày phán xét như là một ngày gặt hái (x. Is 41,15; Gr 51,33). Ông Gioan Tẩy giả đã kể ra việc phán xét của Đấng Thiên Sai trong ngày tận thế tương tự như các động tác của người nông dân sau mùa gặt lúa (x. Lc 3,17). Ở đây, Đức Giêsu cho môn đệ tham dự vào công trình của thời Cánh chung của Người bằng sự cầu nguyện và rao giảng Tin mừng.

– C 3-6: + Như chiên giữa bầy sói: Các môn đệ của Đức Giêsu sẽ đi vào trần gian đầy những kẻ thù đang tìm cách bách hại. Nhưng các ông phải đi với bàn tay không mang theo vũ khí, tâm hồn đầy nhân từ và hiền lành như con chiên. Các ông phải đặt trọn niềm cậy trông vào Chúa quan phòng. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đườngVì người Do thái và các dân vùng Trung Đông gặp nhau thường chào hỏi hàn huyên lâu giờ. Đức Giêsu muốn các môn đệ đừng để các việc trần thế chi phối khi đi rao giảng. Trong các sách của Luca, các sứ giả của Tin mừng đều đi như chạy: Đức Maria chạy đi thăm bà Ê-li-sa-bét, các mục đồng chạy đến máng cỏ, Phi-líp-phê chạy để đuổi kịp chiếc xe của một người Ê-thi-ô-pi (x. Cv 8,3). + “Bình an cho nhà này”: Luca lấy lại cách chào hỏi thông thường của Cựu ước (1 Sm 25,6). Đây là một lời cầu chúc phúc lộc an khang, một lời chúc lành. Bình an là mức sung mãn của sự sống, là món quà cao quý nhất mà Đấng Mêsia ban tặng (x. Lc 1,79). +Có ai đáng hưởng bình anĐó là người tin và đón nhận sự bình an của Thiên Chúa.

– C 7-9: + Người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đóĐây là một sự cởi mở của Đức Giêsu. Người cho phép các môn đệ được ăn mọi thức ăn do người ta dọn cho, mà không cần bận tâm xem chúng là thức ăn tinh khiết hay ô uế theo Luật Môsê (x. Cv 10,9-15). Làm thợ thì đáng được trả côngĂn những thức người ta dọn cho không phải là ăn của bố thí, nhưng là một thứ lương bổng do sự công bằng đòi buộc, tương xứng với Tin mừng cao quý mà các ông đem đến. Trách nhiệm của Cộng đoàn Hội thánh là phải lo phương tiện sống và hoạt động cho các người rao giảng Tin mừng. Sau này thánh Phaolô cũng nói rằng: “Quả vậy Kinh thánh có nói: Đừng bịt mõm con bò đang đạp lúa, và làm thợ thì đáng được trả công: (1 Tm 5,18; Mt 10,10; Đnl 25,4). Nơi khác Ngài còn nói: “Một khi chúng tôi đã gieo của thiêng liêng cho anh em, thì nếu chúng tôi có gặt của vật chất nơi anh em, thì đâu có phải là chuyện quá đáng” (1 Cr 9,11). Tuy nhiên thánh Phaolô lại từ chối quyền gặt hái của cải vật chất ấy cho bản thân ngài (x. 1 Cr 9,12-14 ; 2 Cr 11,7-9). + Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kiaNgười Tông đồ phải tránh lo lắng tìm sự tiện nghi ăn ở cho mình, nhưng cần chuyên tâm chu tòan sứ vụ. + “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”: Các môn đệ đi trước dọn đường cho Đức Giêsu sắp đến. Người chính là hiện thân của Nước Thiên Chúa.

– C 10-12: + Vào bất cứ thành nào mà người ta không đón tiếp…Đức Giêsu cảnh báo cho các môn đệ biết họ sẽ bị người ta từ chối đón nhận Tin mừng. Bấy giờ các ông vẫn phải cho họ biết: Dù họ có muốn hay không, một ngày kia, Thiên Chúa sẽ hiển trị. Đó là ngày Phán xét. Nếu họ cố tình chối từ, họ sẽ bị loại ra khỏi Nước Thiên Chúa. + Thành Xơ-đom: Là một địa danh thời Tổ phụ Ap-ra-ham. Thành này đã bị phạt vì đã phạm quá nhiều tội lỗi (St 10,19).

– C 17-20: + Nghe đến Danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con: Ma quỷ phải chịu xuất ra khỏi người bị chúng ám khi các môn đệ ra lệnh nhân Danh Đức Giêsu (x. Cv 16,18). + Xatan từ trời sa xuống: Xatan là cái tên ám chỉ ma quỷ, kẻ đối lập và thù ghét Thiên Chúa. Do đó, khi Nước Thiên Chúa xuất hiện, thì quyền lực của Xatan sẽ bị lật đổ. + Quyền năng để chà đạp lên rắn rết…Các loài vật kể ra ở đây là khí giới của Xatan. Đức Giêsu chiến thắng Xatan thì cũng tước đoạt hết khí giới của chúng và bắt chúng phải phục quyền (Rm 8,37-39 ; Ga 12,31). + Mừng vì tên được ghi trên trời: Ở đây là cuốn sách trường sinh, trong đó có ghi tên những người được ơn cứu độ (x. Đnl 12,1; Kh 3,5).

  1. CÂU HỎI: 1) Đức Giêsu sai bao nhiêu môn đệ đi truyền giáo ? 2) Tại sao môn đệ phải đi từng hai người một ? 3) Có bao nhiêu Tông đồ ? 4) Tông đồ khác với môn đệ thế nào ? 5) Tại sao Đức Giêsu lại truyền cho môn đệ đừng chào hỏi ai dọc đường và chúc bình an cho nơi mà các ông đến ở trọ ? 6) Hãy cho biết lý do các môn đệ lại được quyền ăn mọi thứ người ta dọn cho dựa theo Lời Chúa trong Thánh kinh ? 7) Thành Xơ-đom là thành nào ? 8) Khi nào thì quyền lực của Xatan hòan tòan bị sụp đổ ?

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ gặt lúa về” (Lc 10,2):
  2. CÂU CHUYỆN:

1) LÀM CHỨNG CHO CHÚA GIỮA ĐỜI THƯỜNG:

Tại Thủ đô Ma-ni-la nước Phi-líp-pin, có trường Đại học Công giáo A-ta-di-ô do các cha dòng Tên sáng lập, tọa lạc trên một ngọn đồi. Đây là một trường cung cấp rất nhiều nhân tài cho đất nước Phi. Dưới chân trường Đại học này là một khu lao động nghèo, trong đó có một Cộng đoàn tu sĩ Tiểu đệ. Đa số các tu sĩ ở đây đã từng ở Việt nam.

Một hôm, một vị linh mục dòng Tên người Mỹ, là Giáo sư Đại học A-ta-di-ô tình cờ đi lạc vào khu lao động ấy và giữa đường gặp được một tu sĩ Tiểu đệ người Bỉ. Sau khi làm quen, vị linh mục người Mỹ đã hỏi tu sĩ người Bỉ: “Thầy làm gì ở khu lao động này ?” Tu sĩ người Bỉ kia trả lời: “Hằng ngày tôi đi chợ, nấu ăn, giặt quần áo, đi làm thuê làm mướn cho những ai cần”. Nghe thế, vị linh mục người Mỹ rất lấy làm tiếc về sự hy sinh lãng phí của tu sĩ trí thức người Bỉ kia. Ông cũng cho biết công việc của ông ở đây là: Dạy học cho các sinh viên, đi thuyết trình đó đây nhằm rao giảng Tin mừng qua việc đào tạo thêm những nhà trí thức phục vụ Giáo hội Phi.

2) HÃY CHIẾN THẮNG SỰ DỮ BẰNG SỰ TIN YÊU:

Vào một buổi tối nọ, một diễn giả nổi tiếng là John Keller được mời thuyết trình trước khoảng một trăm ngàn người tại vận động trường Los Angeles. Đang diễn thuyết, bỗng ông dừng lại và nói: “Xin các bạn đừng sợ. Tôi sắp cho tắt tất cả đèn trong sân vận động này”.

Đèn tắt, sân vận động chìm sâu trong bóng tối. Ông John Keller lại nói tiếp: “Bây giờ tôi sẽ đốt lên một que diêm. Những ai nhìn thấy ánh lửa của que diêm của tôi đốt thì hãy kêu lớn tiếng: “Thấy rồi !” Một que diêm vừa được bật lên, thì cả vận động trường đều vang lên “Thấy rồi!”

Sau đó đèn trong vận động trường được bật sáng trở lại và ông John Keller giải thích: “Ánh sáng của một hành động nhân ái dù nhỏ như một que diêm cũng có thể chiếu sáng trong bóng đêm tăm tối của nhân loại y như thế”.

Rồi một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại vụt tắt và một giọng nói vang lên ra lệnh: “Tất cả những ai có mang theo hộp quẹt, xin hãy đốt cháy lên!” Bỗng chốc, cả vận động trường đều rực cháy sáng.

Rồi ông John Keller kết luận: “Nếu tất cả mọi người chúng ta đều hợp lực cùng nhau, chúng ta sẽ có thể chiến thắng bóng tối, chiến thắng sự dữ và sự oán thù bằng những đốm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của chúng ta”.

  1. THẢO LUẬN: 1)Thế giới đã nhận biết và ca ngợi điều gì trong cuộc sống và hoạt động của Mẹ Têrêsa Can-quýt-ta ? 2)Ngày nay, muốn làm tông đồ truyền giáo hữu hiệu cho đồng bào Việt nam, chúng ta phải làm gì ?
  2. SUY NIỆM:

1) Có nhiều cách thức truyền giáo: Cuộc đối thoại giữa vị linh mục dòng Tên người Mỹ và vị tu sĩ dòng Tiểu đệ người Bỉ trong câu chuyện trên cho chúng ta thấy có nhiều cách truyền giáo trong Hội thánh: Vị linh mục dòng Tên đại diện cho đông đảo các nhà truyền giáo trên khắp thế giới, ngày đêm rao giảng Tin mừng bằng khả năng tri thức và các phương tiện sẵn có. Nhưng bên cạnh đó, còn có các tu sĩ âm thầm sống giữa những người nghèo, chia sẻ sự lao động chân tay cực nhọc với những người nghèo khác… mà tu sĩ Tiểu đệ người Bỉ trong câu chuyện trên là một bằng chứng. Đây là những chứng nhân truyền giáo trong âm thầm, lấy cuộc sống chia sẻ để làm chứng cho Chúa. Cả hai đường lối truyền giáo ấy đều có giá trị và thực sự đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp cho Hội thánh.

2) Điều kiện của các thừa sai: Khi sai các môn đệ đi truyền giáo, Đức Giêsu đã căn dặn họ phải sống hiền lành như con chiên và phải có lối sống đơn giản: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường”. Như vậy, một cuộc sống siêu thoát, không lệ thuộc vào của cải đời này, không phí thời giờ vào những chuyện không đâu, trông cậy vào Chúa quan phòng, khiêm tốn đón nhận sự giúp đỡ về nhà ở, cơm ăn… Tôn trọng tự do của tha nhân, chấp nhận có thể bị từ chối xua đuổi… đó chính là những điều mà những ai muốn làm chứng cho Nước Trời cần lưu tâm thực hiện.

3) Sống đạo và truyền đạo: Hiện nay dân số Á châu chiếm gần hai phần ba thế giới. Nhưng số người nhận biết Chúa chưa được 3 phần trăm. Á châu chính là cánh đồng lúa chín đang cần thợ gặt. Là thành phần của Hội thánh, mỗi tín hữu chúng ta cũng phải thi hành sứ vụ tông đồ. Chúng ta phải sống thế nào để những người khác phải bỡ ngỡ giống như người Do thái khi nhìn vào Cộng đoàn Hội thánh sơ khai đã thốt lên: “Xem kìa, họ thương nhau là dường nào !”. Kitô giáo không phải là một lý thuyết nhưng là chính sức sống của Đức Giêsu. Sống đạo là sống sức sống của Chúa và truyền đạo là truyền sức sống ấy sang cho người mình tiếp xúc.

4) Gây thiện cảm để giới thiệu Chúa cho lương dân: Gần đây hội nghị các Giám mục Á châu đã liệt kê một số điều mà các tín hữu cần học hỏi nơi các dân tộc châu Á như sau: Học tập cách cầu nguyện ăn chay và bố thí của người Hồi giáo. Học tập cách chiêm niệm nơi người Ấn giáo. Học tập sự từ bỏ của cải và tôn trọng sự sống nơi người Phật tử. Học cách xây dựng gia đình và xã hội có trật tự nơi Khổng giáo. Học sống đơn sơ khiêm tốn nơi Lão giáo… Càng học, ta càng nhận ra giáo lý Đức Giêsu tiềm ẩn trong giáo lý các tôn giáo đó và nhờ hiểu biết họ, ta sẽ gây được thiện cảm với họ để dễ dàng giới thiệu Đức Giêsu cho họ hơn.

  1. NGUYỆN CẦU

– LẠY CHÚA GIÊSU, Xưa Chúa đã sai các môn đệ đi truyền giáo trong tư thế siêu thoát, không cậy dựa vào thế lực của tiền bạc hay các phương tiện vật chất. Nay xin Chúa cũng cho chúng con biết chia sẻ Tin mừng với niềm vui của người mục tử khi tìm thấy con chiên lạc. Cho chúng con biết nói về Chúa với sự xác tín và kèm theo những dấu chỉ tình yêu. Xin ban cho chúng con góp phần đẩy lùi văn hóa sự chết, là sự dữ, bất công và sa đọa. Xin giúp chúng con biết lau khô những giọt lệ của bao người đang đau khổ cả về thể xác cũng như tinh thần.

– LẠY CHÚA, thế giới thật bao la và vòng tay của chúng con lại quá bé nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm chặt tay nhau. Xin cho chúng con biết hợp tác với những người thiện chí dù họ không cùng niềm tin với chúng con, để mọi người cùng nhau loại trừ các tệ nạn xã hội, xây dựng một xã hội mới công bình và nhân ái theo thánh ý Chúa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA..- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN_C

Về mục lục


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc